Unknown Soldier

Watching, Wandering, Writing …

Mâu thuẫn trong thành ngữ tiếng Anh

Posted by Unknown Soldier on Tháng Chín 9, 2007

Trên Internet có khá nhiều trang sưu tầm các câu chuyện, những nhận xét dí dỏm về tiếng Anh rất bổ ích cho người học tiếng Anh. Xin giới thiệu một bài viết vừa đọc được, trong đó tác giả so sánh các cụm thành ngữ tiếng Anh rất quen thuộc nhưng trái ngược nhau. Tác giả nhận xét: “We regard these words of wisdom with reverence, but some of these sayings look specious when weighed against each other”. Trong câu này có từ specious mang nghĩa mới nghe qua thấy hay nhưng đọc kỹ thấy không ổn như kiểu paradoxical.

Ví dụ, chúng ta thường nghe một “cổ nhân” nhận xét “Knowledge is power” nhưng ngay sau đó lại thấy một nhà “hiền triết” khác phán “Ignorance is bliss”. Ở đây nên phân biệt hai từ “ignorant” và “stupid” – một bên đơn giản là không biết còn bên kia là dốt. “He was ignorant of the hidden dangers” vì thiếu thông tin chẳng hạn. Còn tiếp nhận thông tin rồi mà vẫn không chịu hiểu thì chắc chắn là “stupid” rồi. Có một câu tổng kết hay: “Nothing in all the world is more dangerous than sincere ignorance and conscientious stupidity”. Conscientious là thorough. Nói “Ignorance is bliss” nhiều lúc cũng đúng vì không biết gì thì không lo lắng, không băn khoăn nên trở thành “vô ưu”.

Một cặp thành ngữ chỏi nhau khác: “Action speaks louder than words” và “The pen is mightier than the sword”. Hai câu này dường như đại diện cho hai tính cách, một bên chọn hành động và một bên chọn thuyết phục, thuyết giảng. Nói đúng ra, các cặp thành ngữ này bổ sung cho nhau chứ không hẳn là đối chọi nhau nhưng ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu chúng về mặt tiếng Anh.

Rất nhiều thành ngữ tiếng Anh có ý nghĩa giống thành ngữ tiếng Việt, chỉ khác nhau ở cách diễn đạt và hình ảnh chuyển tải. Ví dụ, chúng ta nói: “Đừng trông mặt mà bắt hình dong” – người Anh nói: “Don’t judge a book by its cover” (cover ở đây là cái bìa sách). Nhưng đối lại người Anh có câu: “Clothes make the man” và người Việt cũng nói: “Người sang nhờ lụa”.

Giả thử bạn muốn làm giàu nhanh chóng bằng cách chơi chứng khoán. Một ông khuyên: “Look before you leap” và bạn nghe lời, chưa dám chơi để nghe ngóng, tìm hiểu thị trường trước đã. Bỗng bạn gặp một ông khác, bảo: “He who hesitates is lost”. Bạn thấy cũng đúng vì đã bỏ qua nhiều cơ hội nên vội vàng mua cổ phiếu của một ngân hàng. Ông thứ ba tư vấn nên mua trái phiếu chính phủ cho chắc ăn vì, theo ông, “Better safe than sorry”. Ông thứ tư bĩu môi: “Nothing ventured, nothing gained”. (Venture là chấp nhận rủi ro để đạt được điều gì đó – câu này cũng giống “Không vào hang hùm làm sao bắt được cọp”).

Loại thành ngữ khuyên răn trái ngược này khá nhiều. Ví dụ sự trái ngược giữa hai trường phái “đông tay vỗ nên kêu” và “nhiều thầy thối ma” được diễn đạt bởi các cặp: “Many hands make light work” – “Too many cooks spoil the broth”; “The more, the merrier” – “Two’s company; three’s a crowd”; “Two heads are better than one” – “If you want something done right, do it yourself”. Trong các cặp này có từ company, ở đây có nghĩa là bạn đồng hành.

Có những cặp mới nghe qua tưởng mâu thuẫn nhưng thật ra chúng giống nhau hoàn toàn: “Great minds think alike” – “Fools seldom differ” vì “trí lớn” gặp nhau thì “trí nhỏ” cũng gặp nhau chứ sao. Có những cặp chỉ đối chọi nhau vì từ dùng nhưng nghĩa thì không liên quan: “Money talks” – “Talk is cheap” (câu trước mang nghĩa mạnh vì gạo bạo vì tiền; còn câu sau là nói không ăn thua gì, tranh cãi chẳng đi tới đâu – chứ không phải lời nói không mất tiền mua).

Có lẽ chúng ta cũng nên trang bị một số cặp thành ngữ trái ngược kiểu này để “tùy nghi ứng biến”. Ví dụ với người bạn ít nói, mình khen: “A silent man is a wise one”; với người nói nhiều, mình tán thưởng: “A man without words is a man without thoughts”. Gặp người yên phận, mình tán đồng: “What will be, will be”; nhưng gặp người nhiều tham vọng, vẫn có thể khuyến khích: “Life is what you make it”. Cứ nghĩ đây là luyện tập ngôn ngữ chứ không phải chuyện ba phải. Hoặc có lúc phải dùng chúng để tự vệ. Giả thử cô bạn gái đi công tác dài ngày, ông bạn chọc: “Out of sight, out of mind” (coi chừng, xa mặt cách lòng), bạn hãy đáp lại: “Absence makes the heart grow fonder”. Fond ở đây là affectionate.

Cuối cùng, hãy cùng tìm hiểu một cặp thành ngữ trái ngược khá lạ, liên quan đến ngựa: “Beware of Greeks bearing gifts” và “Don’t look a gift horse in the mouth”. Thành ngữ sau có nghĩa đừng xét nét khi nhận được quà hay một quyền lợi nào đó (được voi đòi tiên). Người ta thường nhìn vào miệng con ngựa xem hàm răng để định tuổi nó, cho nên có ai tặng ngựa thì đừng nhìn vào miệng nó, dễ bị phật ý. Câu trước là cảnh giác với những ai mang quà tới tặng, câu này xuất phát từ câu chuyện con ngựa thành Troy.

Bài viết sưu tầm trên http://www.saigontimes.com.vn

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: