Unknown Soldier

Watching, Wandering, Writing …

Kho vàng trên đảo nhỏ-Enid Blyton

Posted by Unknown Soldier on Tháng Bảy 29, 2013

ImageDựa theo bản gốc Five On a Treasure Island của Enid Blyton. Truyện mình đã đọc và vẫn giữ từ nhỏ là bản dịch của dịch giả Nguyễn Thị Huyền, được Nhà xuất bản Kim Đồng in tháng 8/1987. Vì quyển truyện đã quá cũ nát, có nguy cơ không đọc được, thêm nữa là chưa hề có bản truyện này trên mạng, nên giờ lọ mọ gõ lại giữ riêng đọc chơi🙂

KHO VÀNG TRÊN ĐẢO NHỎ
Ba anh em Francois, Mick và Annie về nghỉ hè ở Kernach với gia đình cậu mợ Henri và Cécile. Claudine, con gái cậu Henri, tính nết hơi kỳ quặc, buổi đầu tỏ vẻ không ưa thích mấy người anh chị họ. Dần dần, do thật sự quý mến và biết cách đối xử thân tình, ba anh em Francois đã làm cho Claudine thay đổi và chơi thân với họ, đưa họ đi chơi đảo Kernach, xem xác chiếc tàu đắm và toà lâu đài cổ trên đảo do tổ tiên mợ Cécile để lại; tất cả những thứ đó đã là của riêng của Claudine. Qua những chuyến đi ấy – cùng với Dagobert, con chó quý của Claudine – mấy anh em đã phát hiện ra một kho vàng của ông cụ tổ cất giấu trong lâu đài. Do cách đối xử với trẻ con không thoả đáng của cậu Henri, suýt nữa thì kho vàng lọt vào tay bọn bất lương. Mấy anh em – cùng Dagobert – phải khắc phục nhiều khó khăn trở ngại và đã giữ lại được kho vàng.

Chương 1 Lên đường đi Kernach

Buổi sáng hôm đó, khi tất cả nhà quây quần quanh bàn ăn sáng, François hỏi:

–         Mẹ ơi, năm nay mẹ đã định cho chúng con đi nghỉ hè ở đâu chưa? Chúng con có được đi Grơ-nốp như năm ngoái không?

Bà Gauthier trả lời:

–         Không, mẹ e là không đi được đâu. Các khách sạn ở đó đầy ắp cả rồi mà khách du lịch vẫn cứ ùn ùn kéo đến từ khắp nơi.

Ba anh em François, Mick và Annie nhăn mặt. Ba đứa nhìn nhau chán ngán. Đi Grơ-nốp thú vị biết bao! Ở đó có nhiều nơi dạo chơi rất thích và lại được thở không khí trong lành miền núi nữa.

Ông Gauthier nói:

–         Thôi, đừng có buồn trước làm gì! Thể nào bố mẹ cũng tìm được chỗ gửi các con đến nghỉ cho các con tha hồ vui chơi. Năm nay, bố mẹ không cùng đi với các con được, mẹ đã nói cho các con biết chưa?

Annie kêu lên:

–         Mẹ đã nói gì đâu! Bố mẹ không thể cùng đi nghỉ với chúng con thật ư? Từ trước tới nay, bao giờ cả nhà cũng luôn cùng với nhau kia mà!

Bà Gauthier nói:

–         Thì trước vẫn thế, nhưng năm nay, bố muốn mẹ đi cùng với bố lên phía bắc có công chuyện. Bây giờ các con đã lớn rồi, bố mẹ nghĩ là các con có thể nghỉ hè với nhau vui vẻ, vắng bố mẹ. Thế nhưng giờ ở Grơ-nốp không còn chỗ mà cũng không thể để các con ở lại Li-ông trong dịp hè được, mẹ cũng chưa biết cho các con đi đâu bây giờ…

Bố bỗng có ý kiến:

–         Này sao không gửi chúng đến nhà cậu Dorsel nhỉ?

Ông Henri Dorsel là em bà Gauthier, tức là cậu của ba đứa trẻ. François, Mick và Annie mới trông thấy cậu có mỗi một lần, mà lần ấy đứa nào cũng thấy hơi sờ sợ. Ông Dorsel là một người cao lớn, dáng vẻ nghiêm khắc; ông là một nhà bác học cũng có ít nhiều tiếng tăm, ông dành phần lớn thời gian để nghiên cứu. Ông ở cạnh bờ biển… Đấy, ba đứa chỉ biết về cậu mình có bấy nhiêu thôi.

Bà Gauthier ngạc nhiên kêu lên:

–         Gửi các con đến nhà Henri à? Sao anh lại nghĩ đến chuyện đó nhỉ? Cậu ấy không chịu nổi cái cảnh nhà cửa lộn xộn ầm ĩ trẻ con quấy phá đâu!

–         Có gì đâu, hôm nọ anh gặp vợ cậu Henri ở Paris. Mợ ấy cũng lên Paris có việc. Trong khi nói chuyện, mợ ấy có bảo là ở Kernach hơi buồn. Cậu ấy thì cứ suốt ngày vùi đầu vào sách vở, mợ ấy đang nghĩ xem có nên nhận vài người ở trọ trong dịp hè, để cho có việc mà làm không. Nhà mợ ấy ở ngay bờ biển. Con mình ra đấy nghỉ hè thì thật là lý tưởng. Mợ Cécile rất dễ tính, anh chắc mợ ấy sẽ hết lòng chăm sóc bọn trẻ.

–         Đúng đấy, mợ ấy lại còn có một đứa con gái, ba đứa quỷ sứ nhà ta chơi với nó thì hợp lắm. Tên nó là gì nhỉ? À phải Claudine, đâu khoảng mười một tuổi.

Mick kêu lên:

–         Ồ, bằng tuổi con à? Thế ra chúng con có một cô em họ, vậy mà chẳng trông thấy bao giờ! Nó ở một mình, chắc là phải buồn ghê lắm. Con còn có François và Annie chơi cùng, còn nó là con một thì buồn chết. Chắc bọn con đến, nó sẽ mừng lắm…

Ông Gauthier ngắt lời:

–         Thì chính thế! Mợ Cécile nói rằng nếu có trẻ con cùng chơi với Claudine thì sẽ rất tốt cho nó. Bố tin rằng để giải quyết dứt khoát câu chuyện nghỉ hè này, chỉ cần gọi điện thoại cho mợ Cécile, nhờ mợ ấy cho các con đến nghỉ hè năm nay. Bọn trẻ sẽ làm cho mợ thêm vui và lại có thêm bạn chơi với con gái cậu mợ. Về phần mình, bố mẹ cũng yên tâm vì các con sẽ được trông nom cẩn thận.

Ba đứa trẻ rất phấn khởi với ý kiến của bố. Được đi tới một nơi chưa từng đến bao giờ, lại được ở cùng một cô em họ chưa từng biết mặt thì thật là thú vị biết bao!

Annie hỏi:

–         Bãi biển đó giống như cái gì? Có cát hay là sỏi? Chỗ ấy có đẹp không? Có vách đá, núi đá không?

Bố trả lời:

–         Đã lâu bố không đến nên cũng chẳng nhớ nữa, nhưng bố chắc chắn là các con đến đó sẽ rất thích. Ở đó có một cái vịnh tên là vịnh Kernach. Mợ Cécile từ nhỏ đến giờ vẫn ở đó và mợ sẽ không bao giờ dời đi đâu cả.

Mick giục giã:

–         Bố gọi điện thoại nhanh lên! Con tin chắc rằng chúng con sẽ được vui chơi thoả thích ở đó. Trời ơi, vịnh Kernach! Chỉ nghe thế đã thấy đầy chuyện phiêu lưu rồi, phải không?

Ông Gauthier cười:

–         Con thì đi đâu mà chẳng thấy thế! Thôi được, bố sẽ gọi điện thoại và thống nhất với mợ các con.

Ba đứa trẻ đã ăn xong bèn theo bố sang gian phòng có đặt máy điện thoại. Cả ba đều nóng lòng muốn biết kết quả ra sao.

François nói:

–         Anh mong là mọi việc sẽ trôi chảy. Không biết cái Claudine ấy nó giống ai nhỉ? Tên nó hay đấy chứ, các em có thấy không? Nó kém anh một tuổi, bằng tuổi em đấy, Mick ạ, còn Annie thì lại thua nó một tuổi. Như vậy chắc chắn chúng ta sẽ hợp với nó. Cả bốn đứa chúng mình cùng chơi thì vui phải biết!

Khi ông Gauthier gọi điện thoại, ông ra hiệu cho bọn trẻ đi xa, nhưng chỉ mười phút sau, chúng đã thấy ông quay lại, trông nét mặt ông, chúng biết là công việc đã trôi chảy. Miệng ông cười hớn hở làm cho khuôn mặt sáng hẳn lên. Ông nói:

–         Xong cả rồi! Mợ Cécile rất vui mừng được đón các con. Mợ nói là sự có mặt của các con sẽ rất có ích cho Claudine, vì nó sống hơi cô độc. Nhưng các con phải chú ý không được làm phiền cậu Henri. Cậu là một nhà trí thức phải làm việc rất nhiều; làm phiền cậu trong lúc bận việc là cậu dễ bực mình lắm!

Mick hứa:

–         Chúng con sẽ không làm ầm ĩ gì hơn mấy con chuột nhắt, chúng con hứa với bố như vậy. Nhưng bao giờ chúng con đi hả bố?

–         Nếu mẹ con chuẩn bị kịp thì tuần sau.

Bà Gauthier gật đầu:

–         Cũng được thôi. Có gì chuẩn bị nhiều lắm đâu! Bọn chúng con cần những gì nhỉ? Áo tắm này, sơ mi cộc tay này và mấy cái quần đùi. Đến đấy thì chỉ mặc thế thôi chứ gì?

Annie vừa reo vừa nhảy tại chỗ:

–         Lại được mặc quần đùi, thích quá! Đến Kernach, con sẽ lúc nào cũng được mặc quần đùi với áo tắm, rồi con sẽ suốt ngày đi tắm và leo núi với các anh!

Mẹ cười:

–         Thì có ai cấm con đâu! Bây giờ con hãy nói cho mẹ biết con muốn mang đồ chơi gì và sách vở gì đi? Nhưng không được đòi mang đi nhiều quá vì va li cũng không rộng.

Mick nói:

–         Năm ngoái, Annie đòi mang đi Grơ-nốp đủ cả mười hai con búp bê. Em có nhớ không, Annie? Buồn cười chết được!

Annie đỏ mặt:

–         Có gì mà buồn cười! Em yêu tất cả các con búp bê của em nên em chẳng biết nên mang đi con nào, để lại con nào, em nghĩ là cứ mang đi theo tuốt cả là xong.

–         Thế em có nhớ năm ngoái em còn đòi mang đi bằng được cả con ngựa gỗ không? …

Bà Gauthier nói xen vào:

–         Mẹ thì lại nhớ là có một thằng bé tên là Mick, một năm nào đấy đi nghỉ hè đã chất vào trong va li cả một con gấu bông to đùng, ba con chó, hai con mèo và cả con lừa già lăn trên bánh xe nữa…

Đến lượt Mick mặt đỏ bừng bừng; cậu ta vội vàng nói sang chuyện khác:

–         Bố ơi, chúng ta sẽ đi bằng gì? Xe lửa hay ô tô?

–         Ô tô, con ạ. Ta có thể cho tất cả hành lý vào hòm sau xe; xem nào, ta có thể đi vào… thứ ba chẳng hạn.

Bà Gauthier gật đầu:

–         Tôi đồng ý đấy! Như vậy chúng ta sẽ có thì giờ đưa các con đến Kernach, trở về đây chuẩn bị hành lý đàng hoàng và đến thứ sáu thì cũng lên đường luôn. Thôi được, nhất định thứ ba đi nhé!

Chưa bao giờ ngày thứ ba được chờ đợi nóng ruột như vậy. Bọn trẻ vừa đếm từng ngày vừa thở dài và Annie mỗi buổi tối trước khi đi ngủ còn gạch cẩn thận trong tờ lịch cái ngày vừa trôi qua. Sao mà cái tuần lễ đó dài đến như vậy! Và cuối cùng, cuối cùng, đã đến ngày thứ ba! Mick và François cùng ngủ chung một phòng, cùng thức dậy một lúc và lập tức chạy đến cửa sổ nhìn ra ngoài trời…

Francois kêu lên:

–         Tuyệt quá! Trời đẹp vô cùng! Mình không hiểu tại sao, nhưng thường cứ ngày nghỉ hè đầu tiên bao giờ cũng đẹp. Chúng mình đánh thức Annie dậy đi.

Annie ngủ ở buồng bên cạnh. Francois ùa vào như một cơn gió và lay vai em:

–         Nào dậy đi! Hôm nay thứ ba rồi, mặt trời đang chiếu rực rỡ!

Annie tỉnh dậy, mỉm cười với anh, nói vui vẻ:

–         Thế là đã đến ngày lên đường! Gớm thời gian chưa bao giờ đi chậm như vừa rồi. Em rất muốn đến ngay Kernach.

Ăn sáng xong, mọi người lên đường. Xe hơi của nhà rộng, nên cả nhà ngồi thoải mái. Bố mẹ ngồi ghế đằng trước còn ba đứa trẻ ngồi ghế sau, chân đặt trên hai chiếc va li, đầy ắp những gói cùng bọc, không kể một chiếc hòm con để mãi trong cùng. Bà Gauthier chắc chắn không quên gì cả.

Chiếc xe luồn lách qua những phố phường nhộn nhịp của thành phố Li-ông rồi rời thành phố, phóng nhanh trên đường cái lớn.

Chẳng mấy lúc đã đi giữa đồng quê mênh mông. Bọn trẻ cất tiếng hát vang lừng, Annie bắt đầu thấy đói, liền hỏi:

–         Chúng ta có sắp dừng lại để ăn dọc đường không mẹ?

–         Có, nhưng không phải là ngay bây giờ. Mới mười một giờ, đến giữa trưa chúng ta mới ăn, con ạ…

Cô bé kêu lên:

–         Con làm sao mà đợi cho đến lúc đó được!

Bà Gauthier đưa cho cô bé một thanh sôcôla. Annie chia với hai anh. Ba anh em vừa ăn vừa nhìn đồi, núi, rừng cây chạy vù vù qua trước mặt. Cả nhà dừng lại ăn dọc đường trong một khung cảnh đồng quê tuyệt đẹp. Chỉ có Annie hơi sợ một con bò cái to tướng cứ tiến mãi đến gần để nhìn cô, vẻ tò mò, nhưng khi bố cô phất phất cái khăn vào nó thì nó lại quay đi, may quá! Lũ trẻ ăn ngon miệng quá, đánh sạch cả thức ăn dành cho bữa chiều, làm cho mẹ phải tuyên bố thế nào cũng phải dừng lại một cái quán bên đường để ăn bữa chiều. Francois nuốt nốt miếng tráng miệng cuối cùng, bụng còn thòm thèm, hỏi bố:

–         Độ mấy giờ ta đến nhà mợ Cécile hả bố?

–         Nếu không có gì trục trặc thì vào khoảng sáu giờ. Bây giờ, các con đi dạo một tí cho khỏi chồn chân rồi ta lại lên xe. Đường còn dài đấy.

Những cột cây số lại thi nhau lướt qua vùn vụt. Lại đến bữa cơm chiều. Ăn xong, bọn trẻ càng có vẻ sốt ruột thấy đã sắp đến nơi. Mick nói:

–         Chúng mình phải để ý, sắp đến biển rồi đây. Em đã ngửi thấy mùi biển rồi.

Đúng vậy. Không khí mang tới mùi của biển khơi. Xe dừng lại trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ… và biển vụt hiện ra trước mắt họ, xanh lộng lẫy dưới ánh nắng mặt trời, im lặng và láng bóng như một tấm gương kì diệu. Ba đứa trẻ thốt lên tiếng kêu sung sướng:

–         Biển đây rồi!

–         Biển đẹp quá!

–         Em chỉ muốn được tắm ngay một cái!

Ông Gauthier nói:

–         Khoảng hai mươi phút nữa, chúng ta sẽ đến vịnh Kernach. Chúng ta đi thế là nhanh đấy! Tuy chưa đến vịnh, nhưng các con sắp sửa trông thấy vịnh bây giờ. Vịnh cũng khá rộng, ở giữa lại có một hòn đảo con rất ngộ.

Khi ô tô chạy dọc theo con đường ven biển, bọn trẻ ngóng chờ cái phút được thấy vịnh. Francois nhìn thấy vịnh trước tiên:

–         Kia rồi!… Nhất định đúng là vịnh Kernach kia rồi!… Mick, em nhìn xem, vịnh đẹp không kìa, một màu xanh tuyệt diệu!

–         Thế anh có thấy cái hòn đảo nhỏ tựa như đứng gác ở giữa vịnh không? Em muốn ra thăm hòn đảo ấy quá!

Bà Gauthier quay lại bảo:

–         Nhất định các con sẽ được ra xem đảo. Giờ đây ta phải tìm biệt thự “Hải Âu” ở đâu đây: gia đình cậu Henri ở đó.

Mọi người tìm thấy ngay biệt thự; nó đứng trên một vách đá nhìn xuống vịnh, trông có vẻ cổ kính. Cũng chẳng phải là một biệt thự mà là một cái nhà lớn bằng đá trắng đã dầu dãi với thời gian. Mặt trước có dây hoa hồng leo và khu vườn nhỏ quanh nhà đầy hoa đẹp rực rỡ.

Ông Gauthier dừng xe trước nhà và nói:

–         Biệt thự Hải Âu đây rồi, hình như ngôi nhà này cổ đến ba trăm năm cơ đấy! Nào xem cậu Henri đâu… A, kìa các con, mợ Cécile kia rồi.

Chương 2 – Cô em họ kỳ lạ

Mợ Cécile vẫn có ý đợi xe đến; vừa trông thấy xe, mợ đã chạy vội ra khỏi nhà. Thoáng gặp mợ, bọn trẻ đã thấy mến ngay. Mợ kêu lên vui vẻ:

–         Chúc mừng các cháu đến chơi Kernach! Cả nhà mạnh khoẻ chứ? Gặp anh chị và các cháu, em mừng quá! Sao mà bọn nó chóng lớn thế này!

Mợ hôn tất cả mọi người rồi đưa khách vào nhà. Trong nhà trông cũng đẹp mắt, nhưng giữa những bức tường cổ kính, vẫn phảng phất một vẻ gì bí ẩn. Đồ đạc bằng gỗ toàn đồ cổ và rất đẹp.

Annie nhìn quanh, hy vọng trông thấy cô em họ xuất hiện, hỏi ngay:

–         Thế Claudine đâu mợ?

Bà mợ trả lời:

–         Em ấy tệ lắm. Mợ đã bảo em phải ở trong vườn để đón các cháu, thế mà nó lại đi đâu mất rồi. Mợ phải nói cho các cháu biết thoạt đầu các cháu sẽ thấy tính nết em hơi khó chịu. Các cháu thấy đấy, em sống một mình mãi nên cũng hơi kỳ quặc: Có thể em không thích thấy các cháu đến đây. Nhưng rồi sẽ quen. Các cháu đừng để ý thái độ cục cằn của em. Chẳng bao lâu em sẽ quen các cháu. Còn riêng mợ, mợ thấy các cháu đến sẽ rất có ích cho Claude. Nó vốn không có bạn nhỏ để cùng chơi đùa.

Annie kêu lên:

–         Mợ gọi em là Claude ạ? Cháu tưởng tên em là Claudine chứ?

–         Đúng, tên em là Claudine. Nhưng Claudine rất sợ mình là con gái, nên để cho em vui lòng, cậu mợ gọi em là Claude cho có vẻ con trai. Vả lại, nếu gọi là Claudine thì em nhất định không chịu thưa đâu.

Bọn trẻ thì thầm trao đổi với nhau về cô em họ như vậy thì tính nết quả cũng kỳ quặc thật. Vì vậy, chúng càng nóng lòng muốn gặp cô bé, nhưng vẫn chẳng thấy cô bé ló mặt. Chỉ thấy cậu Henri hiện ra trong khung cửa. Cậu người cao, tóc rất đen, dáng vẻ lịch sự, vầng trán thông minh nhưng lúc nào cũng cau mày làm cho xấu đi chút ít.

Ông Gauthier nói:

–         Chào cậu Henri! Đã lâu lắm không được gặp cậu. Tôi mong rằng bộ ba của tôi sẽ không làm phiền cậu quá trong khi cậu làm việc.

Mợ Cécile nói:

–         Hiện nay anh Henri đang làm một bản báo cáo khoa học, nhưng phòng làm việc của anh ở mãi tận đầu nhà đằng kia. Em nghĩ rằng có lẽ bọn trẻ cũng không làm phiền anh ấy lắm đâu.

Cậu Henri quay lại nhìn ba đứa trẻ và khẽ gật đầu. Nhưng trán cậu vẫn giữ nguyên nếp nhăn, làm cho mấy anh em Annie cảm thấy hơi sờ sợ. Chúng nghĩ thật cũng may mà ông cậu nghiêm khắc này lại làm việc tại một phòng xa trong ngôi nhà cổ kính.

Nhà bác học bỗng hỏi bằng một giọng trầm trầm:

–         Claude đâu?

Mợ Cécile nói giọng phiền muộn:

–         Chẳng biết nó đi đâu nữa! Em đã dặn nó là phải có mặt để đón các anh chị rồi đấy chứ!

Cậu Henri tuyên bố:

–         Con này, phải phết cho một trận mới được.

Bọn trẻ không hiểu cậu nói đùa hay thật.

Cậu quay lại các cháu:

–         Còn các cháu thì cậu mong các cháu sẽ vui chơi ở đây và sẽ làm cho Claude biết điều hơn một tí.

Biệt thự Hải Âu không được rộng rãi lắm nên không mời được ông bà Gauthier ở lại ngủ đêm. Vì vậy sau bữa cơm chiều nhanh chóng, hai ông bà lại lên đường đến ngủ tại một khách sạn ở thành phố bên cạnh để sáng hôm sau ăn sáng xong sẽ về nhà. Hai ông bà tạm biệt các con lúc Claude vẫn chưa thấy ló mặt về.

Bà Gauthier nói:

–         Tôi hơi buồn vì không được gặp Claudine. Mợ hôn cháu giúp tôi và nói là tôi mong cháu sẽ chơi vui vẻ với Francois, Mick và Annie.

Sau đó hai ông bà lên đường. Bọn trẻ cảm thấy hơi bâng khuâng khi chiếc xe ô tô đen khuất bóng ở cuối con đường rẽ, nhưng mợ Cécile đã dẫn chúng lên gác để chỉ cho chúng buồng ngủ, nên chúng cũng chẳng có thì giờ để buồn.

Hai cậu con trai ngủ chung một gian buồng nhỏ giáp mái, từ đó có thể trông xuống vịnh, phong cảnh rất đẹp. Mick và Francois rất thích thú về thuận lợi đó. Còn Annie thì ngủ chung phòng với Claudine, phòng này cửa sổ mở trông ra cánh đồng cỏ chạy dài phía sau nhà. Tuy nhiên cũng có một cửa sổ nhỏ trông ra phía biển và Annie cũng lấy điều đó làm thích lắm. Nói chung căn phòng cũng đẹp, những bông hồng leo phía trước cửa nhà khi có gió phơ phất thì cũng mơn man vào những cánh cửa sổ.

Annie nói với mợ:

–         Cháu chỉ muốn Claudine về ngay bây giờ. Cháu chỉ muốn xem xem em giống ai.

–         Em cháu tính khí cũng hơi lạ. Đôi khi em có vẻ cau có và khó chịu nhưng thực ra rất tốt. Hơn nữa em là một đứa bé rất thẳng thắn trung thực, có thể hoàn toàn tin cậy em. Một khi các cháu đã trở thành bạn của Claude, thì các cháu có thể tin ở em: Claude sẽ mãi mãi là bạn của các cháu… Nhưng tiếc thay em rất khó gần; làm quen với em không phải dễ. Đó là điều mợ băn khoăn nhất.

Annie bất giác ngáp dài. Hai anh nó trợn mắt nhìn, vì chúng biết là sắp xảy ra chuyện gì. Quả nhiên chúng đã không lầm.

Mợ Cécile nói:

–         Tội nghiệp cháu Annie, cháu mệt quá! Thôi các cháu đi ngủ nhanh lên và ngủ một mạch cho đến sáng mai. Như vậy các cháu sẽ thức dậy thoải mái, tỉnh táo.

Mợ Cécile vừa trở ra, thì Mick quay lại nhìn Annie vẻ rất khó chịu:

–         Sao em ngốc thế không biết! Em không nghĩ là hễ người lớn thấy mình ngáp thì sẽ nghĩ gì à? Anh thì đang thèm xuống biển chơi một lát!

Annie xin lỗi:

–         Em rất tiếc là đã ngáp nhưng em không nhịn được. Nhưng mà chính anh Mick cũng đang ngáp kia kìa… Ô kìa, lại cả anh Francois cũng ngáp kìa!

Cô bé nói đúng. Chuyến đi xe hơi đường dài làm cho chúng buồn ngủ và tuy không nói ra nhưng đứa nào cũng muốn ngủ ngay lập tức.

Annie hôn các anh, chúc ngủ ngon; nhưng trước khi đi, cô bé lại nói cho các anh biết sự ngạc nhiên của mình về Claudine:

–         Em không hiểu Claudine ở đâu… Nó lạ thật, không ở nhà mà đón chúng mình… rồi cũng chẳng ăn cơm… và bây giờ muộn thế này rồi mà cũng chưa về. Nhưng thế nào thì nó cũng phải ngủ cùng buồng với em, không biết đến bao giờ nó mới về đánh thức em dậy.

Thực ra ba đứa trẻ ngủ rất lâu rồi Claudine mới chịu về giường ngủ. Chẳng đứa nào nghe thấy nó mở cửa phòng để đi ngủ. Bọn chúng mệt quá, ngủ như chết mãi đến sáng hôm sau mặt trời rực rỡ đánh thức chúng dậy.

Khi Annie mở mắt, mới đầu nó tự hỏi không biết mình đang ở đâu. Nằm dài trên giường, nó đưa mắt nhìn trần nhà rồi nhìn những bông hồng đang nhô lên tận cửa sổ bỏ ngỏ. Lúc đó cô bé mới nhớ ra là đang ở đâu. Cô nghĩ:

–         À, mình đang ở Kernach và những ngày nghỉ hè đã bắt đầu!

Ý nghĩ ấy làm cho Annie thích quá, cứ cựa quậy trong giường. Bỗng cô nhìn sang giường bên cạnh, ở đó có hình một đứa trẻ khác cuốn trong chăn, chỉ thò mỗi cái đầu tóc nâu xoăn tít. Khi cái hình ấy bắt đầu ngọ nguậy, Annie liền hỏi:

–         Này, cậu có phải là Claudine không?

Cô bé nằm giường bên cạnh ngồi dậy và đưa cặp mắt sắc lạnh nhìn Annie. Tóc cô xoăn tít cắt rất ngắn, gần như tóc con trai. Da mặt cô sạm nắng, làm cho đôi mắt xanh màu hoa đồng nội của cô trong càng thẫm hơn. Còn cái miệng thì phụng phịu và trên trán có một nếp nhăn hệt như của cậu Henri.

–         Không! – cô bé trả lời – Tôi không phải Claudine.

–         Ô! – Annie ngạc nhiên kêu lên – Thế thì cậu là ai?

–         Tôi là Claude, – cô bé trả lời – và tôi chỉ trả lời nếu cậu gọi tôi như vậy. Tôi ghét mình là con gái. Tôi không thích những trò chơi con gái. Tôi cũng biết trèo cây giỏi như bất cứ một đứa con trai nào và tôi bơi nhanh hơn tất cả chúng nó. Tôi cũng biết bơi thuyền giỏi như bất cứ một thuỷ thủ nào ở biển. Cậu phải gọi tôi là Claude. Chỉ có thế tôi mới nói chuyện với cậu, nếu không cậu sẽ không nghe thấy tôi nói với cậu một tiếng nào.

Annie nghĩ em họ mình quả là một cô bé lạ kỳ, bèn nói:

–         Được thôi, đối với mình thì gọi cậu là gì mà chẳng được. Theo mình, Claude là một cái tên rất hay, mình cũng không thích tên Claudine lắm đâu. Vả lại trông cậu cũng giống con trai.

–         Thật không? – Claude hỏi và trong giây lát không cau mày nữa. – Lúc mình cắt tóc ngắn như thế này, mẹ mình giận mình lắm. Trước mình cũng có những búp tóc dài đến cổ. Thật là kinh ghê lắm.

Hai chị em lặng lẽ nhìn nhau một lúc lâu. Bỗng Claude hỏi:

–         Cậu không thấy khổ sở vì cậu là con gái à?

–         Không, sao lại thế? Mình thích mặc váy áo đẹp, cậu thấy đấy… và mình cũng rất yêu búp bê. Thế mà con trai thì chẳng có váy áo cũng chẳng có búp bê.

Claude cười khẩy:

–         Ôi chao! Thích những mụn vải và đồ chơi! Cậu chỉ là một đứa bé nằm nôi. Đấy là tất cả ý kiến của mình!

Annie cảm thấy bị xúc phạm, cô nói:

–         Cậu chẳng lịch sự tí nào. Mình chắc các anh mình sẽ cười cậu nếu cậu làm ra vẻ cái gì cũng biết. Các anh ấy mới là con trai thật, chứ không phải là con trai giả vờ như cậu.

Claude nhảy ra khỏi giường, giận dữ:

–         Này, nếu hai anh cậu định cười tớ thì chính tớ sẽ không coi họ ra cái gì hết. Vả lại, tớ có bao giờ muốn cho các cậu đến đây đâu. Tớ có cần các cậu đến đây sống với tớ đâu. Tớ sống một mình rất dễ chịu. Thế mà bây giờ tớ phải chịu đựng một con bé ngốc nghếch chỉ thích váy áo và búp bê với lại hai đứa anh họ có lẽ cũng ngốc nghếch như vậy.

Annie cảm thấy hai chị em làm quen với nhau buổi đầu như thế là bất lợi. Cô không nói gì nữa, nhưng vội nhanh chóng mặc quần áo: cô mặc cái quần đùi màu ghi và một cái áo pun đỏ. Claudine cũng mặc một cái quần đùi và một cái áo sơ mi con trai. Hai cô bé vừa mặc xong quần áo thì hai cậu con trai đến gõ cửa.

–         Annie, em mặc quần áo xong chưa? Và Claudine đã về chưa? Kìa Claudine! Bọn mình sẽ đợi cả hai cậu nhé!

Claudine mở toang cửa và kiêu hãnh ngửng đầu bước ngang qua trước mặt Mick và Francois. Cô bé giả bộ không trông thấy hai cậu con trai đang tròn mắt ngạc nhiên rồi chạy ùa xuống thang gác, biến mất. Ba anh em nhìn nhau, kinh ngạc.

Annie giải thích:

–         Nó sẽ không nói chuyện với các anh nếu các anh gọi nó là Claudine. Nó nói với em là chúng mình đến đây nó không thích vì chúng mình can thiệp vào cuộc sống của nó. Nó vừa chế giễu em xong và tỏ ra rất khó chịu.

Francois quàng tay ôm lấy vai em và nói dỗ dành:

–         Thôi mà, em đừng lo. Các anh sẽ không cho phép nó làm cho em bực mình. Còn bây giờ, chúng mình hãy đi ăn sáng đã.

Ba đứa trẻ đã thấy đói ngấu. Mùi cà phê sữa và bánh mì nướng dễ chịu bốc lên ngào ngạt. Chúng vội xuống nhà chào mợ. Mợ đang đổ cà phê sữa vào đầy các bát đặt trên bàn. Cậu Henri ngồi một đầu bàn đang đọc báo, cậu chỉ khẽ gật đầu đáp lại lời chào của các cháu. Ba đứa trẻ im lặng ngồi vào bàn, tự hỏi không biết ở đây có được phép nói chuyện trong khi ăn không. Ở nhà thì chúng được phép, nhưng ở đây, cậu Henri có vẻ nghiêm khắc quá.

Claude cũng ngồi đấy, đang phết bơ lên bánh. Cô bé đón các anh chị bằng một cái cau mày. Mẹ cô bảo:

–         Này, Claude, bỏ cái vẻ cau có ấy đi nhé! Mẹ tin là mấy anh em đã trở thành bạn với nhau rồi. Bốn đứa chơi với nhau thì sẽ có rất nhiều trò vui. Sáng hôm nay, con dẫn Annie, Francois và Mick xuống bãi biển, đưa các anh thăm vịnh và các chỗ tắm tốt nhất.

Claude lầu bầu:

–         Sáng nay, con còn đi câu.

Bố ngừng đọc báo, ngước mắt nhìn lên:

–         Không có câu kéo gì hết. Để cho khác đi một tí, con sẽ phải tỏ ra lịch sự và đưa các anh chị ra vịnh chơi. Con hiểu rồi chứ?

–         Thưa bố, vâng ạ! – Claude trả lời, nhưng vẫn không quên cau mày một lần nữa, y hệt bố.

–         Cậu Henri ạ, nếu Claude cứ thích đi câu, thì chúng cháu tự mình cũng có thể tìm được đường xuống bãi biển ạ – Annie nói như vậy. Em nghĩ rằng Claude cứ cau cau có có như thế thì thà đi chơi không có nó còn hơn.

Cậu Henri nói giọng cương quyết:

–         Claude sẽ phải làm đúng như lời ta nói, nếu nó không nghe lời thì cứ liệu…

Vì vậy ăn sáng xong, bốn đứa trẻ sửa soạn xuống bãi biển. Một con đường nhỏ dễ đi ngoằn ngoèo dẫn xuống tận vịnh. Ba anh em Annie vui sướng chạy theo con đường đó cho đỡ chồn chân. Bản thân Claude cũng hơi đỡ cau có và vui lên trong ánh nắng ấm áp toả những ánh vàng trên mặt biển long lanh. Xuống đến bãi cát, Annie bảo Claude:

–         Claude ạ, nếu cậu thích thì cứ đi câu đi, chúng mình sẽ không nói với cậu mợ là cậu không đi với chúng mình đâu! Cậu biết là bọn mình không muốn phiền cậu. Chúng mình có những ba người, nếu cậu không muốn chơi với chúng mình thì cứ việc tự do.

Francois nói thêm, ân cần:

–         Nhưng bọn mình rất thích cậu ở lại với bọn mình.

Trong thâm tâm, cậu bé cũng cho là Claude tính tình khó chịu và không được uốn nắn cẩn thận, nhưng cũng cảm thấy rất mến cô bé có mớ tóc cắt ngắn, có cái cằm vênh lên thách thức, có đôi mắt sáng màu xanh biếc và cặp môi lúc nào cũng phụng phịu.

Claude nhìn thẳng vào mắt Francois:

–         Để còn xem. Tôi không kết bạn với những người chỉ là vì họ có họ với tôi hoặc vì một lý do vớ vẩn tương tự. Tôi chỉ kết bạn với mọi người vì tôi mến họ mà thôi.

Francois nói ngay:

–         Thì cũng như bọn mình! Có thể bọn mình cũng không thích cậu.

–         Ồ! – Claude kêu lên như thể điều đó chưa bao giờ cô ta nghĩ đến – Ừ, tất nhiên, cũng có thể! Có rất nhiều người cũng không thích tớ, quả là bây giờ nghĩ lại thấy đúng thế thật.

Annie không rời mắt khỏi biển màu xanh biếc. Giữa vịnh có một hòn đảo nhỏ, trên chỏm có một cái gì trông như dấu vết còn lại của một toà lâu đài cổ đổ nát. Em nói:

–         Trông hòn đảo ngộ quá nhỉ! Không hiểu tên nó là gì.

Claude quay lại nhìn hòn đảo và trả lời:

–         Đó là đảo Kernach. Ra đấy thích lắm. Nếu mà cuối cùng tôi thích các cậu thì cũng có thể một ngày nào đó, tôi dẫn các cậu ra đó. Nhưng mà tôi chưa hứa hẹn gì hết. Muốn ra đảo tất nhiên chỉ có một cách là đi bằng ca-nô.

Francois hỏi:

–         Hòn đảo này thuộc về ai vậy?

Câu trả lời của Claude làm ai nấy ngạc nhiên:

–         Đảo đó là của tôi, hoặc ít ra ngày sau sẽ là của tôi. Đó là đảo riêng của tôi và cả toà lâu đài ấy cũng là của tôi.

Chương 3 – Một câu chuyện hồi hộp… và một bạn mới

Ba đứa trẻ tròn mắt nhìn Claude vì ngạc nhiên. Claude điềm nhiên như không. Cuối cùng, Mick nói:

–         Cậu nói gì vậy? Đảo Kernach làm sao lại là của cậu? Cậu nói đùa đấy chứ?

–         Đâu có, chuyện thật hoàn toàn đó! – Claude trả lời – Các cậu cứ hỏi mẹ tôi thì biết… Còn nếu tôi nói mà các cậu không tin thì từ giờ tôi không nói gì với các cậu nữa. Không bao giờ tôi nói dối. Theo tôi, phải là kẻ hèn nhát mới không dám nói sự thật, mà tôi thì không phải là một kẻ hèn nhát.

Francois chợt nhớ; mợ Cécile có nói Claude thật thà thẳng thắn. Cậu nhìn Claude, gãi đầu suy nghĩ: “Không có lẽ điều nó nói lại thật!”. Cậu bèn nói:

–         Nếu Claude nói thật thì chúng mình tin cậu chứ sao! Nhưng câu chuyện này quả thực là kỳ lạ. Những đứa trẻ như chúng mình làm gì đã có quyền sở hữu những hòn đảo, dù chỉ là hòn đảo nhỏ tí tẹo như đảo này.

Claude cãi lại giận dữ:

–         Không phải là “hòn đảo nhỏ tí tẹo”, mà là một hòn đảo rất đáng yêu! Ở đó có rất nhiều thỏ quen người như được nuôi trong nhà, rồi cả những con chim công cốc to tướng và rất nhiều hải âu làm tổ. Cả toà lâu đài cũng đẹp ghê lắm, tuy nó đã bị đổ nát.

Mick nói:

– Mới nghe mình đã thích ghê! Nhưng tại sao những cái đó lại là của cậu được, hả Claudine?

Claude lườm Mick và không trả lời gì cả. Mick nói:

–         Cậu tha lỗi cho mình, mình không định gọi cậu là Claudine, mà định gọi là Claude kia…

–         Claude nói tiếp đi, tại sao hòn đảo đó lại thuộc về em được? – Francois vừa nói vừa khoác tay cô em họ đang cau có.

Claude giằng tay ra và nói:

–         Cậu đừng có làm thế, mình cũng chưa chắc đã trở thành bạn của cậu!

Francois cũng đã bắt đầu thấy bực mình, lầu bầu:

–         Thôi được, thôi được, nếu cậu muốn thì chúng ta cũng có thể trở thành kẻ thù của nhau. Nhưng bọn mình rất yêu mẹ cậu, cho nên không muốn mẹ cậu phiền lòng khi thấy chúng ta không thể chơi được với nhau.

–         Thật không? Các cậu cũng yêu mẹ mình à? – Claude hỏi, đôi mắt xanh đã dịu đi một chút. – Có phải mẹ mình rất đáng yêu không? Thôi được, mình sẽ nói cho các cậu biết tại sao hòn đảo và toà lâu đài kia lại thuộc về mình. Nào hãy ngồi xuống đây, ở cái xó này không ai nghe chuyện chúng ta.

Cả bốn đứa ngồi xuống bãi cát. Claude quay lại nhìn hòn đảo đứng sừng sững như một người lính gác giữa vịnh.

–         Chuyện như thế này. Ngày xửa ngày xưa, gia đình đằng mẹ mình làm chủ hầu hết đất đai vùng này. Rồi tổ tiên mình bị sa sút và phải bán hầu hết tài sản, nhưng các cụ giữ lại hòn đảo này, trước hết vì các cụ cũng mến nó, đồng thời vì toà lâu đài lúc đó đã bắt đầu đổ nát nên không ai mua cả.

Mick nói:

–         Thật cũng lạ là chẳng ai mua hòn đảo xinh xẻo như thế kia nhỉ? Nếu mình có tiền thì mình sẽ mua nó ngay, thật thế.

–         Tất cả tài sản thuộc về gia đình của mẹ mình ngày xưa, nay chỉ còn lại biệt thự Hải Âu, nhà mình đang ở, với một cái trại ở gần đây và đảo Kernach. Mẹ mình đã hứa là khi nào mình lớn thì hòn đảo sẽ thuộc về mình. Mẹ mình có nói thêm là ngay từ bây giờ, mình đã có thể coi đảo là của mình được rồi. Các cậu đã hiểu tại sao mình nói nó là của mình chưa? Đó là đảo của mình và mình không cho phép ai đặt chân lên đó nếu mình không đồng ý.

Ba anh em nhìn Claude yên lặng, chúng tin ngay những lời cô bé vừa nói, vì chắc đó là sự thật. Nhưng việc tự mình có cả một hòn đảo thì thật là ngộ, bọn chúng cũng rất muốn được như Claude.

–         À, Claudine… à quên, Claude, sao cậu may mắn thế! Hòn đảo đẹp kinh khủng! Mình mong rồi đây cậu sẽ coi bọn mình là bạn của cậu và sẽ đưa bọn mình ra chơi ngoài đó. Cậu không thể tưởng tượng được bọn mình sẽ thích như thế nào đâu!

Claude có vẻ rất thích thú vì chuyện của nó được mọi người tán thưởng đến như vậy, nó đồng ý:

–         Ừ, kể ra cũng không phải là không thể được. Mình sẽ nghĩ đến việc đó. Mình chưa từng đưa ai ra thăm lâu đài cả, tuy bọn con trai con gái ở xung quanh đây cứ xin với mình mãi. Vì mình không thích bọn chúng nên mình từ chối tất.

Câu tuyên bố đó làm cho mấy anh em lặng đi mất một lúc. Tất cả luồng mắt của bốn đứa trẻ đều hướng về hòn đảo xa xa. Thuỷ triều mới xuống nên trông khoảng nước giữa hòn đảo và đất liền hẹp đi rất nhiều, khiến Mick cứ hỏi mãi không biết có thể lội ra đảo được không.

–         Không – Claude nói – Như mình đã nói với các cậu! Chỉ có thể ra đảo bằng ca-nô được thôi. Trông thế mà nó ở xa lắm, nước ở đấy rất sâu. Vả lại, đảo của mình xung quanh có rất nhiều đá ngầm. Phải biết luồn lách nếu không sẽ bị va vào đá ngầm. Bờ biển xung quanh đây chỗ nào cũng nguy hiểm cả. Khối tàu thuyền đắm ở quanh đây.

Francois kêu lên, đôi mắt sáng rực thích thú:

–         Có xác tàu đắm à? Giá mà cậu biết rằng mình chưa bao giờ được thấy một cái xác tàu đắm nào! Ở đây có được trông thấy một cái nào không?

–         Một vài tàu đắm chìm sâu quá, một số thì đã được vớt lên. Đúng ra chỉ còn có một chiếc ở phía bên kia đảo. Nếu dừng thuyền ngay trên chỗ đắm thì có thể trông thấy cột buồm gãy. Nhưng phải vào hôm biển lặng và mắt nhìn phải tinh. Cả cái xác tàu ấy nữa, nó cũng là của mình.

Đến chuyện này, thì bọn trẻ khó mà tin được Claude. Nhưng cô bé khẳng định:

–         Thật đấy, cái xác tàu ấy cũng của mình. Cái tàu này trước kia là tài sản của một cụ tổ nhà mình, hình như cụ tổ ba đời thì phải. Tàu đó chở vàng, những thoi vàng to lắm và đã đắm ở ngoài khơi Kernach.

Annie mê quá liền hỏi:

–         Thế còn vàng, giờ đâu rồi?

Claude thú thực:

–         Chẳng ai biết cả! Mình cho là có lẽ có người đã lùng sục trong xác tàu và lấy cắp mất vàng. Tất nhiên, người ta đã đưa thợ lặn xuống để xem, nhưng chẳng ai tìm thấy một mẩu vàng nào.

–         Trời! Câu chuyện sao mà hấp dẫn vậy! – Francois nói – Mình muốn được nhìn thấy cái xác tàu ấy quá!

–         Thế thì… chúng ta có thể đi vào trưa hôm nay – Claude nói – Hôm nay biển lặng và nước rất trong. Nhất định với những điều kiện đó, chúng ta có thể trông thấy cái tàu bị đắm.

Annie reo lên:

–         Ôi, sướng quá! Em xưa nay vẫn ao ước được trông thấy một cái xác tàu đắm bằng xương bằng thịt!

Mọi người cười ầm.

Mick cười:

–         Về xương thịt thì đừng mơ tưởng quá, em ạ! Em sẽ chỉ trông thấy gỗ mục với sắt gỉ mà thôi. Còn bây giờ thì Claude này, chúng ta có tắm nắng không?

Claude vùng đứng dậy:

–         Trước hết, mình phải đi đón Dagobert về đây đã!

Mick hỏi:

–         Dagobert là ai vậy?

Claude nói:

–         Các cậu có thể giữ được điều bí mật không? Một điều bí mật không thể để cho bố mẹ mình biết.

Francois nói:

–         Nhất định được chứ! Hãy nói mau điều bí mật ấy ra. Bọn mình sẽ im như thóc cho xem.

Claude giải thích:

–         Dagobert là người bạn thích nhất của mình. Mình không thể sống mà không có nó được. Nhưng bố mẹ mình không thích nó nên mình phải nuôi giấu nó… Giờ mình đi đón nó đây.

Claude chạy đi, vừa chạy vừa leo lên con đường vách đá. Mấy anh em ngồi chờ cô bé trở về và nghĩ: Claude quả là một cô bé lạ lùng nhất từ trước đến nay chưa gặp bao giờ.

Francois lẩm bẩm ngạc nhiên:

–         Không biết cái cậu Dagobert ấy là ai nhỉ? Chắc là một cậu bé dân chài mà bố mẹ Claude không muốn cho nó cùng chơi chứ gì!

Ba anh em nằm dài trên cát mịn kiên nhẫn chờ đợi. Bỗng nhiên, chúng nghe tiếng Claude reo lên ở phía sau: “Nhanh lên, Dagobert, nhanh lên!”.

Chúng ngồi cả dậy để xem anh chàng Dagobert là ai, nhưng đáng nhẽ trông thấy một cậu bé dân chài thì chúng chỉ thấy một con chó lớn, chẳng thuộc giống nào rõ rệt, có cái đuôi dài lê thê và cái mõm như đang cười. Con vật có vẻ mừng quýnh, nhảy nhót xung quanh Claude. Cô bé chạy đến với các anh chị mình. Cô nói:

–         Xin giới thiệu Dagobert với các cậu. Có phải nó đẹp ghê không?

Kể ra phải công nhận Dagobert không xứng với tính từ “đẹp” đó. Mình nó chẳng cân đối gì cả. Nó có một cái đầu quá to, tai quá nhọn, đuôi quá dài và không ai có thể nói rõ nó thuộc giống gì. Nhưng nhìn nó rất buồn cười, nó vụng về nhưng rất nhộn và có tình cảm, nên vừa thấy nó là ba anh em Annie đã yêu nó ngay.

Annie reo lên:

–         Ôi! Con vện đáng yêu quá!

Thế là Dagobert thè luôn lưỡi liếm Annie một cái vào đầu mũi.

–         Ừ phải, mình cũng thấy nó có vẻ ngoan, – Mick nói vậy và giơ tay vỗ vào lưng con chó, làm cho nó mừng cuống quýt.

Đến lượt Francois nói:

–         Mình cũng rất muốn có một con chó như nó. Này Claude ạ, con chó này trông đáng yêu thật đấy, cậu chắc hãnh diện về nó lắm!

Cô bé mỉm cười, nét mặt cô thay đổi hoàn toàn. Mặt cô sáng bừng và trông đẹp ra vì nụ cười đó. Cô ngồi xuống bãi cát và Dagobert ngồi xuống cạnh cô, thè lưỡi liếm lia lịa.

Claude nói:

–         Mình yêu nó lắm! Ngày trước, một hôm mình bắt gặp nó trong đồng cỏ, lúc đó nó mới được một năm. Mình mang nó về nhà. Mới đầu mẹ mình cũng quý nó lắm, nhưng khi nó lớn lên rồi, nó bắt đầu hư.

Annie hỏi:

–         Hư như thế nào?

–         Thế này nhé! Nó có cái thói nhai tất cả các thứ vớ được, cái gì vớ được là nhai tất, ví dụ: một cái chăn mẹ mình mới mua, cái mũ đẹp nhất của mẹ, giày đi trong nhà của bố… một số giấy tờ của bố và còn nhiều thứ khác nữa. Rồi nó lại còn sủa nữa. Mình cũng thích nó sủa nhưng bố mình thì không thế. Bố nói rằng nó sủa thế làm bố khó chịu. Mỗi khi Dagobert sủa, bố lại đánh nó, mình thì cáu lên và bố lại bực với mình.

Annie hỏi:

–         Bố cậu có đét cậu không? Cậu Henri có vẻ nghiêm quá nhỉ!

Claude quay mặt nhìn ra vịnh, vẻ mặt lại cau có như cũ; cô nói:

–         Cái đó thì quan trọng gì! Không phải đó là cái đáng sợ nhất. Một hôm, bố mình tuyên bố là không thể để cho Dagobert sống trong biệt thự được nữa. Mẹ mình cũng đồng ý như vậy. Mình bắt buộc phải xa con chó của mình. Mình khóc mấy ngày liền… mà các cậu biết đấy, mình làm gì có cái thói hay khóc. Con trai có bao giờ hay khóc và mình thì cũng giống như con trai.

–         Ồ, có chứ, con trai thỉnh thoảng cũng hay khóc, – Annie bắt đầu nói và đưa mắt nhìn Mick, hồi còn bé cũng hay khóc nhè. Nhưng Mick lấy tay huých Annie một cái và cô bé không nói tiếp nữa.

Claude nhìn Annie:

–         Không, con trai không bao giờ khóc. – cô nhắc lại một cách bướng bỉnh – Ít nhất thì mình cũng chưa thấy đứa con trai nào khóc bao giờ và mình cũng cố giữ để không khóc. Trẻ con mới lắm nước mắt, còn mình thì đã mười một tuổi rồi. Thế mà cái lần ấy mình không thể không gào lên khi Dagobert bị tống ra khỏi cửa. Mình khóc ghê quá và Dagobert cũng khóc.

Bọn trẻ con nhìn Dagobert với vẻ thán phục, chúng chưa bao giờ nghe thấy ai nói một con chó có thể khóc.

Annie hỏi:

–         Cậu muốn nói là nó khóc có nước mắt thật đấy à?

–         Không, không hẳn như thế! Vì nó là một đứa can đảm. Nhưng nó thốt lên những tiếng kêu ai oán và nó có vẻ khổ sở quá làm cho lòng mình như tan nát. Và lúc đó mình hiểu rằng mình không thể xa nó được.

–         Thế sau rồi sao?

–         Mình đi tìm Jean Jack, một cậu dân chài quen biết, mình bảo nếu cậu ấy đồng ý nuôi hộ Dagobert thì mình sẽ cho cậu ấy tất cả tiền tiêu vặt của mình. Cậu ấy bằng lòng, thế là xong. Vì vậy chẳng bao giờ mình có một xu nào trong túi để tiêu cả, tất cả đều dùng để nuôi Dagobert. Con này nó ăn khoẻ khiếp lắm… có phải không, Dagobert?

–         Oa! – Dagobert trả lời và nằm lăn ra cát, ngửa bụng lên, chân quẫy rối rít. Francois lấy tay cù vào bụng nó.

–         Thế lúc cậu thèm ăn kẹo hay ăn kem thì làm thế noà? – Annie hỏi như vậy vì cô có bao nhiêu tiền bỏ túi đều mua kẹo bánh ăn hết.

Claude trả lời:

–         Mình không ăn nữa, chỉ có thế thôi.

Một sự dũng cảm như vậy khiến mấy đứa trẻ phục lăn, bởi chúng rất thích ăn kem, sô cô la và kẹo. Cả ba anh em đều rất hay ăn và khó có thể nhịn được.

Francois đánh bạo hỏi:

–         Mình nghĩ là thỉnh thoảng các bạn trên bãi biển cũng mời cậu ăn bánh kẹo với họ chứ?

Claude trả lời:

–         Có, thỉnh thoảng cũng có, nhưng bao giờ mình cũng từ chối. Bởi vì không khi nào mình có thể mời lại họ, nên ăn của họ là không đúng.

Đúng lúc đó, nghe đằng xa vang lên tiếng chuông báo hiệu người bán kem đi qua. Francois lục trong túi, rồi vùng đứng dậy chạy về phía đó, vừa đi vừa lắc mấy đồng tiền leng keng. Mấy phút sau, nó trở về, cầm cẩn thận trên tay mấy chiếc kem sô cô la. Nó đưa cho Mick một cái, Annie một cái, còn cái thứ ba đưa cho Claude. Cô bé nhìn cái kem một cách thèm thuồng, nhưng dũng cảm lắc đầu:

–         Không, cám ơn! Cậu hãy nhớ mình mới nói với các cậu điều gì: mình không thể dùng tiền tiêu vặt để mua kem, cho nên sẽ không bao giờ mình mời lại được các cậu. Vì vậy mình không thể nhận được cái gì hết. Nhận quà của người ta mà không có gì biếu lại người ta là không tốt.

Francois cố ấn cái kem vào tay Claude:

–         Cậu có thể nhận của chúng mình được, vì chúng ta là anh em họ với nhau kia mà!

–         Không, cám ơn cậu. – Claude nói – Cám ơn cậu đã tốt với mình. Cậu tốt lắm, Francois ạ.

Cô bé nhìn cậu bằng đôi mắt xanh trong sáng và Francois cứ nghĩ mãi cách làm thế nào để cô bé bướng bỉnh này phải bằng lòng. Bỗng cậu mỉm cười:

–         Này nhé, chính cậu cũng có những thứ mà bọn mình cũng muốn được chia xẻ. Chính ra có rất nhiều thứ của cậu mà bọn mình cũng rất thèm được có phần nếu cậu đồng ý. Vậy mình đề nghị thế này nhé: cậu chia với bọn mình những thứ đó và bọn mình chia với cậu kem và kẹo. Cậu thấy thế nào?

Claude nhìn cậu anh họ, rất ngạc nhiên:

– Mình không thấy mình có những cái gì có thể chia được với các cậu?

Francois lấy tay vuốt ve Dagobert:

–         Trước hết, cậu có một con chó, cậu có thể cho chúng mình mượn, chúng mình đã yêu nó lắm rồi. Lại còn hòn đảo của cậu nữa, nếu cậu cho chúng mình ra đấy thì thật là tuyệt. Cuối cùng, cậu còn cái xác tàu nữa… Bọn mình rất muốn xem nó và chia phần nó với cậu. Kem với kẹo thấm vào đâu so với các tài sản của cậu. Nhưng chúng mình có thể để tất cả làm của chung được không?

Claude nhìn thằng vào đôi mắt nâu to thẳng thắn đang nhìn mình, cô bé không thể không cảm thấy yêu mến Francois. Chính ra trong thâm tâm, cô không muốn chia xẻ cái gì với ai hết. Là con một, lúc nào cô cũng sống một mình, không chan hoà với xung quanh. Bản tính hơi kiêu căng, hơi bản năng một tí, cô rất hay nổi giận. Từ trước đến nay thực ra cô cũng chẳng có ai là bạn cả.

Dagobert ngửng đầu lên và hiểu rằng Francois đang mời Claude ăn một cái gì ngon lắm. Nó bèn nhảy lên và liếm cho cậu bé đáng yêu đó một cái.

Francois vừa cười vừa nói:

–         Đó, cậu thấy không, Dagobert cũng muốn chén một miếng. Nó có vẻ rất bằng lòng có thêm những người bạn mới.

Claude nói:

–         Ừ, cũng có vẻ như thế thật!

Và bỗng nhượng bộ, cô bé cầm lấy chiếc kem sô cô la và nói:

–         Cám ơn, Francois. Mình cũng sẽ chia những cái mình có với các cậu. Nhưng các cậu hãy hứa là không nói cho ai ở nhà biết là mình vẫn nuôi Dagobert.

Francois khẳng định:

–         Tất nhiên, bọn mình hứa với cậu như vậy. Nhưng nếu bố mẹ cậu có biết chuyện này, thì mình chắc là cũng không ngăn cản cách nuôi này đâu, khi mà Dagobert không sống ở trong nhà nữa. Này, cậu thấy cái kem này thế nào, có ngon không?

–         Còn phải nói! Kem ngon nhất đời, từ trước chưa bao giờ mình thấy ngon như thế. – Claude vừa trả lời vừa liếm sạch cái cốc đựng kem bằng giấy. – Nó lạnh và ngon tuyệt trần. Cả năm nay bây giờ mình mới ăn cái kem này là một! Ngon quá!

Dagobert cũng cố sức để được nếm một miếng kem. Claude vứt cho nó một mẩu, rồi ngửng đầu nhìn các anh chị, cô mỉm cười, tuyên bố:

–         Cả ba cậu cùng đáng yêu cả và cuối cùng mình rất vui vì các cậu đã đến. Trưa nay, chúng mình sẽ lấy thuyền và bơi ra tận ngoài đảo để xem cái xác tàu đắm. Thế có được không?

Cả ba anh em đồng thanh:

–         Thế còn nói gì nữa!

Dagobert ngoáy đuôi tít mù. Người ta tưởng như con vật đáng yêu ấy cái gì cũng hiểu.

Chương 4 – Cái xác tàu đắm bí mật

Sau đó, ai cũng tán thành là phải tắm một cái. Ba anh em nhà Gauthier nhanh chóng phát hiện Claude bơi giỏi hơn bọn chúng rất nhiều. Cô bé có lối bơi rất đẹp và có thể bơi rất nhanh. Hơn nữa, cô có thể lặn dưới nước lâu không cần ngoi lên để thở.

Francois thán phục:

–         Cậu vượt chúng mình xa! Tiếc là Annie không bơi khá hơn! Annie, em phải chịu khó tập cho khá lên, nếu em không muốn các anh bỏ em lại đằng sau.

Đến giờ ăn trưa, bọn trẻ cảm thấy đói cồn cào. Chúng leo theo con đường vách đá về nhà, bụng mong mợ Cécile sẽ cho chúng một bữa ra trò. Mợ Cécile đã không phụ lòng mong mỏi đó. Sau mấy món ăn nguội vừa nhiều vừa ngon, tiếp đến pa-tê bọc vỏ cứng, đậu xanh, rau xà lách, phó mát và một món tráng miệng rất tuyệt. Các vị khách nhỏ chén ráo cả, không đợi phải mời mọc nhiều.

Mợ Cécile hỏi:

–         Trưa nay, các con định làm gì?

Annie trả lời:

–         Claude sẽ chở thuyền đưa chúng cháu sang bên kia đảo để xem xác tàu đắm ạ.

Mợ Cécile nhìn con gái một cách ngạc nhiên:

–         Claude sẽ chở thuyền đưa các cháu đi chơi à? Thật không thể tin được! Này Claude, có chuyện gì thế, con? Từ trước đến nay, con vẫn từ chối không chịu chở ai trên ca-nô của con, và ngay mẹ cũng đã nhiều lần yêu cầu con…

Claude không trả lời, chỉ cắm cúi ăn món tráng miệng. Trong suốt bữa ăn, cô bé chưa hề mở miệng nói câu nào. Cậu Henri hôm nay không ra ăn cơm cùng với cả nhà, trong thâm tâm, bọn trẻ cũng hơi thấy nhẹ mình chút ít.

Mợ Cécile lại nói:

–         Vậy là Claude, con sẽ chở thuyền cho các anh chị con đi chơi. Mẹ rất vui lòng thấy con đã quyết định như thế.

Claude nói:

–         Con làm thế vì con thích thế. Con sẽ không chở ai đi xem cái xác tàu của con, nếu con không thích, dù người ấy là tổng thống nước Cộng hoà, hay là hoàng hậu nước Anh cũng vậy.

Mẹ cô bật cười:

–         Vậy là mẹ rất vui vì con thích chơi với Francois, Mick và Annie. Mẹ mong rằng các anh chị con cũng thích chơi với con.

Annie kêu lên:

–         Ồ thưa mợ, thích lắm đấy ạ! Chúng cháu yêu Claude lắm và chúng cháu cũng yêu cả Da…

Trên môi cô bé đã sẵn sàng cái tên Dagobert, nhưng cô không kịp nói ra, vì ngay lúc đó, cô bị đá một cái vào mắt cá chân, đau quá làm cô phải kêu lên một tiếng, nước mắt trào ra. Cùng lúc đó, Claude lườm cô một cái.

Mợ Cécile kêu lên:

–         Claude! Tại sao con lại đá Annie, trong lúc chị ấy đang nói tốt cho con? Ra ngay khỏi bàn ăn! Mẹ không chịu nổi cách con cư xử như vậy!

Claude không nói một lời, đứng dậy ra khỏi phòng và ra vườn, để lại trên đĩa của mình phần lớn món bánh nhân táo mới ăn có một tí.

Mick, Annie và Francois ân hận nhìn đĩa thức ăn bỏ dở, nhất là Annie lại càng bối rối quá. Tại sao em có thể ngốc đến nỗi quên rằng không được nói tên Dagobert ở nhà?

Cô bé nói với mợ Cécile:

–         Cháu xin mợ gọi Claude về đi, mợ ạ. Em vô tình đá phải chân cháu thôi!

Nhưng mợ Cécile thực sự đang giận Claude. Mợ nói:

–         Các cháu cứ ăn nốt món tráng miệng đi. Mợ đoán là bây giờ con Claude đang dỗi đây. Trời ơi! Sao mà nó khó tính khó nết thế không biết!

Với mấy đứa trẻ thì việc Claude có đang dỗi hay không nào có quan trọng gì; chỉ sợ bây giờ Claude không đồng ý đưa chúng ra xem xác tàu đắm nữa thôi.

Bữa ăn kết thúc trong im lặng. Mợ Cécile đứng dậy vào xem cậu Henri có muốn ăn thêm một chút phó mát không. Hôm đó, nhà bác học muốn ăn một mình trong phòng làm việc để tập trung tư tưởng hơn vào công việc. Mợ Cécile vừa ra khỏi phòng, Annie nhặt ngay phần bánh nhân táo Claude để lại trên đĩa và chạy ra vườn tìm cô em họ.

Bọn con trai cũng không có ý định mắng mỏ Annie. Chúng biết là cô em gái quá nhanh mồm miệng nhưng sau đó lại tìm hết cách để sửa chữa sai lầm. Chúng còn nhận thấy Annie đã dũng cảm dám đi gặp Claude khó tính lúc này.

Annie tìm thấy Claude nằm dài dưới một gốc cây to, ở cuối vườn. Cô nói với Claude:

–         Claude ạ, mình rất tiếc là đã vụng về như vậy. Đây, mình mang phần bánh tráng miệng cho cậu đây. Mình xin hứa từ giờ trở đi sẽ không bao giờ nói tên Dagobert ra trước mặt mọi người nữa.

Claude ngồi dậy trên bãi cỏ và tuyên bố:

–         Mình rất muốn không đưa các cậu đi xem xác tàu đắm nữa! Sao mà cậu ngốc thế không biết?

Annie lo thắt cả ruột. Đó chính là điều cô sợ nhất: Claude phản ứng như vậy là tất nhiên thôi! Cô bé bèn dịu dàng nói:

–         Mình hiểu lắm. Cậu giận mình cũng đúng. Nhưng mấy anh mình thì có làm gì cậu đâu, cậu chẳng có lý do gì giận các anh ấy cả. Vậy cậu hãy đưa các anh ấy đi xem xác tàu… Vả lại, – Annie vừa nói vừa giơ chân ra, – cậu cũng đã đá cho mình một cái đau ghê lắm, cậu biết không? Xem này, tím cả chân đây này.

Claude nhìn cái chân bị xanh tím rồi lại nhìn Annie:

–         Thế nếu mình đưa Francois và Mick đi xem mà không cho cậu đi, thì cậu có buồn không?

–         Có chứ, nhất định có. – Annie trả lời – Nhưng mình không muốn vì mình có lỗi mà các anh ấy bị mất đi một cuộc vui.

Bỗng nhiên Claude có một cử chỉ mà ai biết em cũng phải lấy làm ngạc nhiên. Cô hôn lên má Annie một cái thật kêu. Sau khi hôn xong, cô lại cảm thấy xấu hổ vì nghĩ rằng bọn con trai, không đứa nào lại làm như thế bao giờ. Mà cô thì luôn luôn làm thế nào để cho mình giống con trai.

Cô bèn nói bằng một giọng cứng nhắc, vừa nói vừa cầm lấy phần bánh từ tay Annie:

–         Thôi được! Cậu đã xuýt nữa gây ra một chuyện rầy rà. Mình đã ngăn cậu bằng cách đá cho cậu một cái. Chúng mình thế là hoà. Tất nhiên, trưa nay cậu cũng sẽ được cùng đi với chúng mình.

Annie chạy về báo cho các anh biết mọi chuyện đã dàn xếp xong và mười lăm phút sau, cả bốn đứa chạy trên con đường dẫn xuống bãi biển. Đứng trên một chiếc ca-nô đánh véc-ni bóng loáng, là một cậu bé dân chài da rám nắng, vào khoảng mười bốn tuổi. Dagobert thì đang vẫy đuôi tíu tít bên cạnh.

Cậu bé mỉm cười nói với Claude:

–         Ca-nô đã chuẩn bị xong, thưa cậu Claude. Và Dagobert cũng đã sẵn sàng.

–         Cám ơn! – Claude nói và đưa tay mời các anh chị lên thuyền.

Dagobert cũng nhảy vào trong thuyền, cái đuôi dài ngoẵng vẫy rối rít. Claude đẩy ca-nô ra và cũng nhảy vào trong, rồi cầm lấy bơi chèo.

Cô chèo rất khéo chiếc ca-nô lướt êm trên mặt biển trong vắt. Nước biển một màu xanh thẫm, mặt trời thì màu vàng rực rỡ. Bọn trẻ thấy rất thích có được một buổi trưa tuyệt đẹp như vậy và được lướt trên mặt biển êm như nhung. Dagobert ngồi ở đằng mũi và mỗi khi có chút bọt sóng trào vào nó, nó lại sủa lên ông ổng.

Claude vừa chèo vừa nói:

–         Nếu các cậu đi vào lúc trời nổi gió thì các cậu sẽ thấy con Dagobert buồn cười như thế nào. Lúc đó, nó sủa như điên vào những ngọn sóng lớn và nổi giận khi bị sóng trào vào người. Con này nó bơi thạo lắm nhé!

–         Có một con chó như thế này đi với chúng ta thật thích – Annie nói như vậy để lấy lòng Claude, làm quên đi câu chuyện ngốc nghếch đã qua – Cậu biết không, mình yêu nó lắm nhé!

–         Oa! – Dagobert sủa to lên một tiếng rồi quay lại liếm vào tai Annie.

Annie rất bằng lòng, nói:

–         Mình chắc là nó hiểu những lời mình nói đấy!

Claude nói ngay:

–         Tất nhiên là nó hiểu chứ! Cái gì nó cũng hiểu tất!

Francois bỗng nói, đã run lên vì vui mừng:

–         Này, hình như đã gần đến đảo rồi phải không? Trông đảo thế mà to hơn mình tưởng nhỉ? Và cái lâu đài nữa kìa, mình mê nó quá!

Ca-nô tiếp tục tiến lên và bọn trẻ không mấy chốc đã thấy xung quanh đảo có một dãy đá nhọn bao bọc thành một vòng tròn. Chỉ có điều phải biết lách giữa những hòn đá mà đi, nếu không thì không có cái tàu nào có thể đến đảo từ phía này được.

Ở giữa đảo, trên một mỏm hơn cao, là toà lâu đài cổ. Đá xây lâu đài ngày xưa màu trắng. Giờ đây, tất cả những sự huy hoàng thưở trước chỉ còn lại những vòm gãy, những tháp sụp và những bức tường đổ nát. Toà lâu đài lãnh chúa, ngày xưa là một pháo đài hùng mạnh, giờ chỉ còn là chỗ trú chân của những con quạ và hải âu kéo đến đậu trên những bức tường hãy còn đứng vững.

Francois không rời mắt khỏi toà lâu đài:

–         Toà lâu đài này đầy vẻ bí mật. Mình rất muốn lên đảo, vào xem toà lâu đài. Và mình nghĩ: lên đó ngủ lại một hai đêm có lẽ cũng thú đấy!

Claude ngừng tay chèo, reo lên vui sướng:

–         Tuyệt diệu! Ý kiến hay làm sao! Cậu có biết là mình chưa bao giờ nghĩ được như vậy không? Ngủ một đêm trên hòn đảo của mình! Chỉ có bốn đứa chúng mình cắm trại ở đó! Làm cơm lấy ăn, y như thể chúng mình sống lâu dài giữa những bức tường cổ kính này! Đúng rồi, như thế thì thật tuyệt!

Mick cũng nhìn hòn đảo, thích thú:

–         Mình cũng nghĩ như vậy. Cậu đoán xem liệu mợ Cécile có cho phép chúng ta không?

–         Mình cũng chưa biết – Claude nói – nhưng cũng có thể mẹ sẽ cho phép. Chúng mình cứ hỏi mẹ thử xem.

Francois hỏi:

–         Chúng ta có thể ghé vào đảo ngay trưa nay được không?

–         Không được, nếu các cậu muốn xem xác tàu… Chúng mình phải có mặt ở nhà vào giờ ăn, nên không có thì giờ đi sang phía bên kia đảo rồi lại trở về.

Francois thú nhận:

–         Thực ra mình thích xem xác tàu hơn là thăm lâu đài Kernach. Này, Claude, đưa mình chèo cho một lúc, cậu cứ chèo mãi thế sao được!

–         Không, mình chèo được – Claude nói – Nhưng mình nhường cho cậu cũng được. Mình cũng thích nằm dài trong ca-nô để hưởng hết thú vui được đi chơi, cho khác đi một chút. Nhưng đợi tí đã. Để mình chèo qua chỗ này, hơi nguy hiểm một tí, rồi cậu chèo thay mình cho đến chỗ những đá ngầm kia. Đá ngầm trong vịnh này có thể chơi cho ta những vố bất ngờ đáo để đấy!

Một lúc sau, Francois chèo thay Claude. Cậu bé chèo cũng khá, nhưng không có sức bật mạnh bằng Claude. Tuy nhiên, ca-nô vẫn tiến lên, dập dềnh nhẹ trên sóng.

Sau khi đã vòng quanh đảo, bọn trẻ thấy toà lâu đài ở một góc cạnh khác. Mặt lâu đài quay ra biển trông còn thảm hại hơn mặt quay vào đất liền.

Claude giải thích:

–         Đó là bởi vì gió từ ngoài khơi thổi vào mạnh hơn. Về phía này, lâu đài chẳng còn gì mấy, chỉ còn vài bức tường. Nhưng ở đây có một bến lên rất tốt, ở trong cùng một cái vịnh bé tí tẹo. Thế nhưng cũng phải biết chỗ mới vào được.

Một lúc sau, Claude lại cầm chèo và lái ra ngoài biển, để đảo Kernach lại đằng sau. Bỗng nhiên, cô dừng lại và nhìn vào phía bờ.

Francois tò mò hỏi:

–         Cậu làm thế nào để xác định được chỗ có tàu chìm. Có lẽ cũng khó tìm lắm!

Claude trả lời:

–         Cậu có trông thấy cái gác chuông ở trong đất liền đó không? Và cậu có nhìn thấy mỏm đồi, quá về phía bên phải một tí không? Đó, khi nào nhìn thấy cả hai cái đó nằm trên cùng một đường thẳng và mình thì ở giữa hai cái tháp của toà lâu đài, lúc đó chắc chắn cậu đang đứng ngay bên trên cái xác tàu. Mình đã phát hiện ra điều đó từ lâu.

Quả nhiên, khi nhìn giữa hai cái tháp của lâu đài, bọn trẻ thấy đúng là gác chuông nhà thờ và ngọn đồi đã cùng đứng trên một đường thẳng. Tức thì, chúng cùng nhìn xoáy xuống tầng nước biển sâu thẳm, hy vọng sẽ thấy bóng chiếc tàu đắm.

Nước rất lặng và mặt biển phẳng lì. Gió đã ngừng thổi. Dagobert cũng nhìn xuống mặt nước, đầu ngoẹo về một bên, tai vểnh như thể nó cũng hiểu là mọi người đang quan tâm đến cái gì. Thái độ nó trông rất ngộ làm cho lũ trẻ không nhịn được, phải cười ầm lên.

–         Chúng ta cũng chưa hẳn đã ở ngay trên xác tàu – Claude vừa nghiêng mình nhìn xuống nước vừa nói – Hôm nay nước trong quá, ta có thể nhìn được rất sâu. Để yên, mình chèo qua phía trái một tí.

–         Oa! – Dagobert bỗng sủa lên một tiếng, đuôi lại ngoáy tít mù. Và, ngay lúc đó, bọn trẻ thấy một cái gì đó ở ngay bên dưới.

–         Xác tàu đây rồi! – Francois reo lên, phấn khởi quá đến nỗi xuýt lăn tòm xuống biển – Mình đã trông thấy một mẩu cột buồm gãy rồi! Mick, em nhìn xem kìa!

Cả bốn đứa trẻ và con chó cúi mình trên mặt nước trong, cố sức nhìn sâu vào tầng nước. Sau một lúc, chúng đã có thể phân biệt hơi rõ ràng hình một cái vỏ tàu màu sẫm, từ đó nhô ra một cái cột buồm gãy.

–         Tội nghiệp cái tàu cũ kỹ! – Francois lẩm bẩm – Nó nằm nghiêng về một bên nhỉ! Có lẽ nó cũng thấy khổ vì sẽ kết thúc cuộc đời như thế này, cứ dần dần mục nát nhỉ! Claude ạ, mình muốn lặn một cái để xem nó cho gần.

Claude bảo:

–         Ừ, tại sao lại không nhỉ? Cậu có mặc áo tắm đấy không? Có à, mình cũng vậy. Mình thỉnh thoảng cũng có lặn ở đây, nếu cậu muốn thì mình sẽ cùng đi với cậu… Nhưng Mick phải coi chừng cho thuyền khỏi trôi đi mới được. Mick, cậu chỉ cần giữ cái bơi chèo này để ghìm nguyên thuyền ở chỗ này thôi.

–         Được, yên trí.

Cô bé nhanh chóng cởi bỏ quần ngắn và áo sơ-mi, Francois cũng vậy. Cả hai đều mặc áo tắm. Claude nhảy một kiểu rất đẹp mắt từ phía mũi. Mấy đứa trẻ trông thấy cô bơi dưới nước, cô tiến bằng những sải tay mạnh mẽ, vẫn nín thở.

Một lúc sau, cô ngoi lên để thở và nói:

–         Mình đã xuống gần đến xác tàu rồi. Nó vẫn nằm nguyên như lần trước mình trông thấy nó. Vỏ nó đầy hà và ốc bám. Mình rất muốn vào ngay tận trong tàu, nhưng mình không giữ đủ không khí để thở. Lần này, cậu cùng lặn với mình chứ Francois?

Và Francois nhảy… không may, cậu không lặn giỏi bằng Claude, nên không thể xuống sâu. Tuy vậy, cậu cũng biết mở mắt và nhờ thế cũng nhìn được sàn cái tàu đắm trứ danh đó. Xác tàu trông hơi lỳ lạ và cô đơn. Kể ra Francois trông nó cũng không thích lắm, mà lại cảm thấy bồn chồn làm sao. Vì vậy cậu rất bằng lòng được ngoi lên mặt nước, hít không khí trong sạch đầy hai buồng phổi và cảm thấy ánh nắng mặt trời mơn man trên đôi vai mình. Cậu trèo lên ca-nô.

Cậu tuyên bố với các em:

–         Trông thì thích lắm nhưng cũng rất ảm đạm. Thật tiếc là không thể thăm thật kỹ cái xác tàu đó. Anh rất muốn vào được bên trong và ngó một chút vào các buồng tàu.

Claude nói:

–         Không thể được đâu! Mình đã nói với các cậu là đã có những thợ lặn chuyên nghiệp kiểm tra kỹ lưỡng con tàu. Họ chưa tìm thấy cái gì hết. Bây giờ mấy giờ rồi nhỉ! Ôi! Chúng ta mà không nhanh nhanh lên một tí thì bị chậm giờ ăn đến nơi rồi.

Chúng vội quay về nhà và về đến nơi vừa đúng giờ ăn. Sau khi ăn no nê, cả bọn cùng nhau đi chơi trên cánh đồng cỏ. Dagobert cũng được cùng đi, nó không rời bọn trẻ nửa bước. Tóm lại, khi chiều xuống, bốn bạn trẻ cảm thấy mệt mỏi quá nên dù không muốn, mắt chúng cũng cứ díp lại.

Annie vừa chui vào chăn vừa nói:

–         Chúc Claude ngủ ngon. Nhờ cậu mà bọn mình có được một ngày chơi vui quá!

–         Mình cũng vậy, mình cũng được một ngày chơi vui, nhờ các cậu. Mình rất vui vì các cậu đến đây nghỉ hè. Bốn đứa chúng ta sẽ chơi với nhau rất vui. Mình nghĩ là hòn đảo nhỏ của mình và toà lâu đài của mình sẽ làm cho các cậu thích.

–         Nhất định rồi… – Annie công nhận.

Nói xong, cô ngủ ngay một giấc ngon lành, nằm mơ thấy toàn xác tàu đắm, và hàng ngàn lâu đài và đảo. Ôi! Bao giờ thì Claude bằng lòng đưa mấy anh em ra đảo Kernach nhỉ?

Chương 5 – Ra thăm đảo

Hôm sau, mợ Cécile chuẩn bị một bữa ăn nguội. Mợ đã có kế hoạch cùng đi với bọn trẻ đến một vũng nhỏ ở quanh vùng, ở đó chúng có thể bơi lội thoả thích. Trời có vẻ đẹp vô cùng và chương trình trong ngày nghe cũng hấp dẫn. Tuy vậy, trong thâm tâm, Francois, Mick và Annie lại muốn đi thăm hòn đảo nhỏ của Claude hơn; như vậy, chúng thích thú hơn nhiều.

Về phần mình, Claude cũng chẳng thích thú lắm cuộc đi chơi và ăn trưa ngoài trời; không phải vì em không thích những cuộc chơi như thế, mà chính vì có mẹ cùng đi thì em không thể mang Dagobert theo được. Cả một ngày thiếu Dagobert đối với em, đó là một ngày không có ánh sáng mặt trời.

–         Chẳng hay tí nào! Francois đoán được tâm lý cô em, bèn lẩm bẩm. – Nhưng mình vẫn không hiểu tại sao cậu không nói thật với mẹ là cậu vẫn giữ Dagobert. Mình chắc rằng mẹ cậu thấy cậu đã gửi nó ở nhà Jean Jack rồi thì cũng bằng lòng thôi. Ở vào địa vị mợ Cécile, thì mẹ mình cũng không nói gì đâu.

Claude đáp một cách cương quyết:

–         Mình không muốn bất cứ ai biết điều bí mật về Dagobert… trừ các cậu. Cậu thấy không, ở nhà, lúc nào mình cũng có chuyện phiền toái. Mình cũng không bảo là không phải tại mình, nhưng cũng mệt lắm kia! Bố thì rất dễ nổi nóng. Bố viết sách khoa học bán không chạy, thành ra bố không thể chiều chuộng mẹ con mình như bố mong muốn. Vì thế bố hay bực mình. Ví dụ, bố muốn cho mình đi học ở một trường thật tốt, nhưng không có đủ tiền. Mà mình thì thấy thế lại thích… Mình chẳng muốn đi học xa tí nào. Mình thích ở lại đây. Như vậy mình sẽ không phải xa Dagobert yêu quý của mình… Mà mình đang nói gì nhỉ…? À phải, đang nói là bố mình hay nổi nóng và hay phạt mình. Vậy nếu bố biết mình vẫn giữ Dagobert thì bố sẽ phạt mình chết.

Annie hỏi:

–         Tại sao cậu lại không thích vào trường nội trú? Các anh Francois, Mick và mình đều đi học nội trú cả, bọn mình thấy thích lắm.

–         Mình thì chẳng thích. Mình mà ở giữa một đám con gái ồn ào như cái chợ vỡ thì mình ghét lắm.

–         Cậu tưởng thế thôi! – Annie nói – Thực ra có các bạn gái cũng thích lắm. Và đối với cậu, nhất định cũng sẽ tốt, Claude ạ.

Claude kêu lên, hai mắt long xòng xọc:

–         Nếu cậu lại bắt đầu kể cho mình nghe những cái gì đối với mình “sẽ tốt” thì mình sẽ ghét cậu vô cùng cho mà xem. Bố mẹ mình lúc nào cũng khuyên cái này, cái khác… mà cái gì cũng trái với cái mình thích, thế mới khổ! Giờ lại đến cậu nữa thì…

Francois cười xoà:

–         Thôi mà, đừng có giận! Cậu sao mà dễ giận thế không biết! Trông kìa, ở mắt cậu phóng ra những tia lửa kìa, có thể châm một điếu thuốc lá vào đấy được đấy!

Câu nói đùa làm cho Claude dù không muốn cũng phải bật cười. Không thể nào làm mặt giận với Francois được, cậu bé bao giờ tính tình cũng vui vẻ.

Cuộc đi cắm trại đã diễn ra êm thấm, bọn trẻ xuống tắm biển mấy lần liền. Bơi lội giữa những ngọn sóng trong vắt, dưới ánh mặt trời chói chang thật vui thích biết bao! Claude đã tỏ ra đáng yêu, dạy cho Annie bơi. Cô bé vẫn không biết phối hợp các động tác tay chân, nên đến khi thấy cô đã khắc phục được cái khó khăn này rồi, Claude cảm thấy rất tự hào.

Annie vừa biểu diễn một lần nữa bài học mới thuộc vừa nói với Claude:

–         Thật cám ơn cậu quá! Mình chắc chẳng bao giờ bơi giỏi bằng cậu, nhưng mình cũng muốn có thể tự lực bơi được như các anh mình.

Trên đường về, Claude tìm cách nói riêng với Francois:

–         Này, cậu có thể nói với mẹ mình là cậu cần đi mua một con tem hay cái gì đấy được không? Bởi vì, lúc đó mình sẽ đi với cậu và nhân đó chạy ù đi thăm Dagobert một tí. Nó cả ngày hôm nay không được thấy mình và không được đi chơi, chắc đang buồn lắm.

–         Được! Mình không cần gì đến tem nhưng mua kem thì được. Mick và Annie có thể về cùng với mợ Cécile và mang các gói đồ. Đợi tí nhé, để mình xin phép mợ.

Nó chạy theo mợ Cécile:

–         Thưa mợ, cháu có thể chạy đi mua mấy chiếc kem không ạ? Hôm nay, chúng cháu chưa được ăn chiếc nào. Cháu đi nhanh thôi ạ. Và mợ cho Claude đi với cháu được không?

Mợ Cécile cười:

–         Nó mà chịu đi với cháu thì kể cũng lạ đấy. Nhưng cháu cứ thử hói nó xem.

–         Claude! Đi với mình đi! – Francois vừa chạy về phía làng vừa gọi.

Claude cũng vừa cười vừa đuổi theo cậu bé. Đuổi kịp, em nhiệt liệt cám ơn Francois:

–         Cậu giúp mình tốt quá! Giờ cậu chạy đi mua kem đi, còn mình thì đi thăm Dagobert.

Hai đứa chia tay nhau. Francois mua bốn chiếc kem và cứ từ từ đi về biệt thự Hải Âu. Chỉ một lúc sau, Claude đã đuổi kịp cậu, mặt mũi tươi roi rói. Cô bé nói:

–         Dagobert vẫn khoẻ. Gớm, cậu không thể tưởng tượng được thấy mình nó mừng như thế nào đâu! Nó nhảy cẫng lên như choi choi! Sao… lại cho mình một cái kem nữa à? Francois, cậu cừ lắm. Mình phải mau mau có gì chia sẻ với cậu mới được. Hay là mai ta ra thăm đảo? Cậu thấy thế nào?

–         Thế thì tuyệt! – Francois kêu lên, hai mắt sáng ngời. – Cậu đã quyết định thực sự chưa? Phải chạy về báo cho bọn chúng biết.

Bốn đứa ăn kem ở trong vườn. Francois nói cho Mick và Annie biết Claude mời ra thăm đảo. Tin đó được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt. Claude cũng rất vui thích. Từ trước tới nay cô thường từ chối không đưa các bạn ở quanh vùng ra thăm đảo, là vì tự cảm thấy mình rất quan trọng. Nhưng bây giờ cô cảm thấy nhận lời đưa mấy anh chị em ra thăm đảo lại vui thích gấp ngàn lần. Cô vừa ăn kem vừa suy nghĩ:

–         Mình cứ tưởng chơi một mình là thích nhất, nhưng giờ mới biết là chơi cùng với Francois và mấy anh chị lại thích hơn rất nhiều.

Bọn trẻ được gọi về rửa chân tay mặt mũi và thay quần áo trước bữa ăn chiều. Bọn chúng cứ hào hứng nói mãi về cuộc đi chơi dự định vào ngày hôm sau. Mợ Cécile nghe thấy và cười:

–         Vậy là Claude đã dự định đưa các cháu đi thăm đảo của nó. Mợ thấy nó rất bằng lòng chia xẻ cái gì đó với các cháu là mợ rất vui… Này, các cháu có muốn mang theo cơm trưa rồi ở ngoài đó cả ngày không? Vừa đi vừa về bằng ca-nô cũng chiếm một số thời gian và nếu muốn chơi được lâu một tí, thì cũng phải ở vài giờ trên đảo.

Annie kêu lên:

–         Ôi! Mợ Cécile! Mợ có ý kiến hay quá!

Claude nhìn mẹ:

–         Mẹ ơi, mẹ có định đi với chúng con không?

Bà Dorsel trả lời giọng hơi buồn:

–         Con có vẻ không muốn mẹ có mặt. Hôm qua mẹ đã để ý, lúc mẹ nói là sẽ đi cắm trại cùng với các con, con có vẻ không bằng lòng. Vậy con cứ yên trí… mai mẹ không đi cùng với các con đâu. Nhưng mẹ nghĩ là các anh các chị con cũng lấy làm lạ là có cô con gái không muốn cho mẹ mình chia xẻ những cái vui của mình.

Claude không trả lời. Thường khi bị mắng, cô không bao giờ nói gì cả. Mấy đứa kia cũng không nói gì, vì bọn chúng biết rằng sở dĩ Claude không muốn có mẹ đi cùng là vì nó muốn mang Dagobert đi theo mà thôi.

Mợ Cécile lại nói:

–         Nói thế chứ mẹ không thể đi được. Mẹ còn phải làm vườn. Nhưng các cháu đi với Claude cũng an toàn lắm, nó biết chèo thuyền thạo như một thuỷ thủ chính cống.

Sáng hôm sau, khi thức dậy, ba anh em Annie đã lo lắng nhìn trời. Nhưng không hề gì, mặt trời vẫn chói chang như hôm trước và ngày hôm nay có vẻ sẽ đẹp tuyệt.

Annie vừa mặc quần áo vừa nói với Claude:

–         Trời đẹp quá nhỉ! Mình rất nóng lòng được thấy hòn đảo của cậu.

Claude bỗng nói:

–         Cậu muốn biết ý kiến của mình không? Thế này, nói thật nhé, hôm nay chúng mình không nên ra đảo.

–         Ôi! Sao vậy? – Annie hỏi, trong giọng đã thấy có vẻ hốt hoảng.

Claude nhìn về phía tây nam và trả lời:

–         Mình cho rằng sắp sửa có giông bão hoặc ít nhất thì cũng có gió to lắm.

–         Nhưng mà cái gì làm cho cậu nghĩ vậy? Cậu nhìn mặt trời xem! Và trên trời không có một gợn mây.

Claude giải thích:

–         Gió thổi mạnh. Và nếu nhìn kỹ, cậu sẽ thấy trên ngọn sóng có một làn bọt trắng, chung quanh hòn đảo của mình. Những cái đó, người ta gọi là “đàn cừu”; chúng chẳng báo điều gì tốt đẹp đâu!

Annie vốn không thể vui vẻ chịu được bất cứ chuyện gì bất ý, năn nỉ:

–         Ôi, Claude, nếu cậu không đưa chúng tớ đi hôm nay thì thật là một nỗi thất vọng lớn nhất trong đời. Vả lại, – Annie nói hóm hỉnh, – nếu chúng ta sợ giông bão mà ở nhà thì không được chơi với Dagobert.

Claude gật đầu:

–         Ừ, đúng thế thật. Vậy thì, thôi được, cứ đi. Nhưng mà cậu phải để ý, nếu bão nổi lên thì đừng có khóc như trẻ con. Cậu sẽ cố gắng không sợ, rồi lại còn thấy thích nữa chứ?

–         Hừm, mình cũng chẳng thích bão… – Annie bắt đầu nói, nhưng vội ngừng ngay khi thấy cô em họ nhìn mình có vẻ coi thường.

Bọn trẻ xuống ăn sáng. Claude hỏi mẹ xem chúng có thể mang theo một bữa ăn nguội như hôm qua mẹ nói không?

Mợ Cécile nói:

–         Được! Annie và con sẽ giúp mẹ làm bánh mì kẹp. Còn bọn con trai thì ra vườn, chọn những quả mận thật chín để ăn tráng miệng. Hái xong mận, cháu Francois có thể chạy ù vào làng mua mấy chai bia và nước chanh, tuỳ các cháu muốn uống gì thì mua nấy.

Francois nói:

–         Cháu xin mợ cho uống bia.

Bọn trẻ đứa nào cũng xin uống bia. Đứa nào cũng vui như tết, vì chúng mơ ước xiết bao được ra thăm hòn đảo nhỏ kỳ lạ đó. Còn Claude thì cũng rất sung sướng, vì Dagobert yêu quý của nó sẽ không phải rời nó suốt cả một ngày.

Cuối cùng đã đến giờ lên đường. Thức ăn được chia làm hai túi lớn. Việc trước hết là đi đón Dagobert. Con chó buộc trong sân sau nhà Jean Jack. Cậu bé dân chài đã đứng đấy và mỉm cười khi thấy Claude.

Cậu chào:

–         Xin chào, cậu Claude!

Francois, Mick và Annie cũng hơi lạ thấy cậu ấy gọi Claudine là “cậu Claude”. Jean Jack nói tiếp:

–         Cậu Claude có biết là từ sáng nay, con Dagobert cứ lồng lên không? Hình như nó cũng đoán biết cậu sẽ cho nó đi chơi hay sao ấy.

Claude vừa cởi dây xích chó ra vừa nói:

–         Tất nhiên nó đoán được rồi.

Vừa được mở dây, Dagobert mừng quýnh lên. Nó chạy xung quanh bọn trẻ, tai và đuôi vẫy rối rít trước gió.

Francois nói:

–         Nếu Dagobert là một con chó săn, thì nó chạy phải nhanh nhất. Kìa nó làm tung bụi lên và khó mà nhìn thấy nó trong đám bụi ấy! Này Dago! Lại đây bắt tay chúng tao cái chứ?

Dagobert nhảy lên liếm tay Francois rồi lại tiếp tục chạy vòng tròn. Sau đó, nó dịu đi một chút và chạy lon ton bên cạnh Claude khi bọn trẻ chạy xuống dốc bờ biển. Rõ ràng nó rất yêu cô chủ nhỏ: lúc nào nó cũng liếm láp đôi chân trần của Claude và cô chủ thì kéo tai nó ra ý mắng mỏ. Xuống đến bãi biển, bốn đứa trẻ trèo vào trong ca-nô, Claude cầm bơi chèo. Jean Jack vẫy tay từ biệt; cậu ta kêu to:

–         Các cậu không ở lâu quá chứ? Có vẻ sắp bão đấy, mà không phải nhỏ đâu!

–         Mình biết rồi – Claude kêu trả lời – Nhưng bọn mình sẽ về trước khi có bão. Bão còn ở xa!

Claude nhất định tự mình trèo thuyền cho đến đảo. Dagobert cứ chạy đi chạy lại, từ đầu thuyền đến cuối thuyền, sủa gâu gâu vào từ ngọn sóng lớn. Bọn trẻ nhìn đảo đến gần dần. Đối với chúng, trông hòn đảo lại càng có vẻ đáng chú ý hơn là hôm trước.

Francois hỏi:

–         Claude, cậu định cập bến chỗ nào? Mình phục cậu tìm được đường giữa những mỏm đá mấp mé nước như thế này. Lúc nào mình cũng sợ thuyền của chúng ta sẽ va vào đá vỡ tan.

Claude nói:

–         Mình sẽ bỏ neo ở trong cái vịnh nhỏ đã nói với các cậu hôm nọ. Chỉ có mỗi một chỗ lách để đi được đến đó, và mình biết rất rõ chỗ đó. Nó lẫn vào trong những mỏm đã ở về phía tây đảo.

Cô bé khéo léo điểu khiển con thuyền giữa các mỏm đá và đột nhiên, sau khi cô bé vừa vượt được một chỗ đặc biệt nguy hiểm, mấy anh em trông thấy ngay cái vịnh nói trên. Đó là một chỗ hõm tự nhiên, nước lặng, có những mỏm đá cao che chở hai bên và một bãi cát thoai thoải dễ lên. Chiếc ca-nô đi vào làn nước của bến cảng nhỏ đó và lập tức không bị sóng làm chao đảo nữa. Mặt nước ở chỗ này trông tựa như một tấm gương trong suốt.

–         Trời, sao mà chỗ này đẹp đến thế! – Francois kêu lên, đôi mắt sáng long lanh thích thú.

Claude nhìn Francois và mắt cũng sáng rực lên như vậy, mắt cô xem ra còn xanh hơn màu nước biển. Đây là lần đầu tiên cô đưa người khác đến thăm cái đảo yêu quý của cô và cô cảm thấy vui sướng vô cùng.

Chiếc ca-nô cập vào bến cát vàng óng. Annie nhảy xuống đất và chạy tung tăng, reo lên:

–         Thế là chúng ta đã ở trên đảo rồi!

Dagobert chạy theo và cũng nhảy nhót điên loạn như vậy. Lũ trẻ cười phá lên. Claude lôi ca-nô lên rõ thật cao trên bãi cát. Francois vừa giúp cô vừa hỏi:

–         Tại sao phải lôi lên cao thế? Thuỷ triều làm gì mà lên mãi đây?

Claude nói:

–         Mình đã nói là có thể có bão mà! Nếu có bão thì cái vịnh này cũng bị những ngọn sóng lớn đánh đến, mà chúng mình thì không muốn bị mất ca-nô phải không nào?

–         Tất nhiên rồi…

–         Đi thám hiểm quanh đảo đi! Đi thám hiểm quanh đảo đi! – Annie đã trèo lên trên đỉnh những mỏm đá bao quanh vịnh và gọi: – Nhanh lên, các anh, leo lên đây với em!

Ba đứa trèo lên theo. Quả nhiên chỗ đó cũng đẹp thật. Một lũ thỏ tự do chạy đi chạy lại, thấy có người đến thì tản ra, nhưng cũng không trốn vào trong hang như ở nơi khác.

Mick có vẻ ngạc nhiên:

–         Chúng có vẻ dạn nhỉ?

Claude nói:

–         Có gì đâu, trừ mình ra, nào có ai đến đây đâu! Mà mình thì cố gắng không làm cho chúng sợ. Dago! Mày mà cứ đuổi thỏ thì tao sẽ phết cho một trận.

Dagobert quay lại nhìn cô chủ, vẻ thảm hại. Nó và Claude thống nhất với nhau về mọi chuyện, trừ chuyện đuổi thỏ. Đối với Dagobert, thỏ sinh ra là để cho chó đuổi, cho nên nó không hiểu tại sao Claude lại cứ cấm nó đuổi. Nó cũng ngoan ngoãn đi một cách trịnh trọng bên cạnh bọn trẻ, nhưng vẫn nhìn theo một cách thèm thuồng những “túm lông xù” đang đùa giỡn với nhau trên cỏ.

Francois nói:

–         Mình có cảm tưởng những con thỏ này có thể đến ăn ngay trên tay chúng mình.

Claude lắc đầu:

–         Không đâu! Mình đã thử, nhưng chúng chưa thật là quen người. Các cậu nhìn bọn thỏ bé xíu mà xem, trông dễ thương không?

–         Oa! – Dagobert lên tiếng rất đồng ý với nhận xét đó, đồng thời tiến thêm một bước về phía bọn thỏ con. Thấy bộ dạng “anh chàng” như vậy, Claude phải gọi nó lại gần mình. Nó phải nghe theo, đuôi cụp xuống.

Francois nói:

–         Lâu đài đây rồi, chúng mình có thăm lâu đầi luôn không? Mình muốn thăm ngay bây giờ.

–         Ừ, cũng được, – Claude đồng ý… – Các cậu nhìn này, đây là cửa vào chính. Ngày xưa, người ta đi qua cái vòm này, nay đã đổ nát.

Bọn trẻ ngắm nhìn rất lâu cái vòm cổng vĩ đại, ở bên trên đầu chúng, phía bên trong thấy rõ những bậc lên xuống của một chiếc cầu thang bằng đá đã đổ nát, dẫn vào trung tâm lâu đài.

Claude giải thích:

–         Lâu đài này ngày xưa có những bức tường rất dày bao quanh và có hai cái tháp. Một cái đã hoàn toàn đổ nát, một cái khác hãy còn tương đối vững. Bọn quạ làm tổ trong đó, chúng chất đầy cành cây và cỏ đủ các loại.

Trong khi các du khách đi về phía cái tháp còn đang đứng vững, thì bọn quạ bay thành vòng trên đầu họ, vừa bay vừa kêu lên the thé, nghe mà khiếp. Dagobert nhảy lên như choi choi, làm như thể nó muốn vồ nghiến lấy chúng, nhưng làm sao được! Bọn trẻ vừa cười vừa chế nhạo nó.

Claude vừa bước qua một khung cửa bị đổ nát vừa nói:

–         Thế là chúng ta đã ở giữa lâu đài rồi đây!

Bọn trẻ đi theo Claude vào một chỗ có lẽ ngày xưa là một sân rộng, lát những phiến đá, bây giờ đã gần ngập lút dưới những đám cỏ hoang.

–         Cái sân này ngày xưa vốn là một phòng lớn, nơi các lãnh chúa hay tụ họp. Từ đây, ta có thể trông thấy chỗ ngày xưa là các phòng. Trông kìa, còn một cái phòng gần như còn dùng để ở được… Đúng thế đấy, hãy đi qua cái cửa con này, các cậu sẽ thấy ngay!

Cả toán đi theo Claude và bước vào trong một phòng tối, tường và mái đều bằng đá. Ở một đầu, có một khoảng rộng, là chỗ của lò sưởi ngày trước. Cả phòng chỉ có hai khoảng trống nhỏ hẹp làm cửa sổ. Toàn cảnh toát ra một cảm giác là lạ và hơi bí hiểm.

Francois thở dài:

–         Thật đáng tiếc, toà lâu đài này đã đổ nát quá! Có lẽ cái phòng này là độc nhất gần như còn nguyên…

Cậu lôi các em đi theo:

–         Mình thấy bên này còn một số phòng nữa, nhưng tất cả đều đổ nát, cái thì không còn mái, cái thì mất một hoặc hai bức tường. Chỉ có căn buồng chúng ta vừa đi qua là còn ở được… Claude này, có lẽ phải có cầu thang dẫn lên các tầng trên chứ nhỉ?

Claude nói:

–         Tất nhiên là có chứ, nhưng bậc lên xuống biến mất gần hết rồi. Các cậu nhìn xem, bên cạnh cái tháp có quạ ở, còn nhận ra được một phòng, nhưng không tài nào lên đó được; mình đã thử lên, nhưng cũng chịu. Mình trèo lên tí nữa thì bị ngã gãy cổ. Bước lên thấy đá cứ rơi lả tả dưới chân mình.

Mick hỏi:

–         Thế có những hầm “bỏ quên” không?

–         Mình cho là có, – Claude trả lời – Nhưng mà chưa ai tìm ra được những hầm ấy bao giờ… Cỏ hoang mọc lan tràn khắp nơi rồi còn gì!

Quả thật thiên nhiên đã lại chiếm lĩnh khắp mọi nơi. Những bụi gai lớn mọc lung tung cả và một vài bụi nhô ra từ các viên gạch lát. Cỏ hoang làm thành tấm thảm dưới chân người và những cây xương rồng màu tím hoa cà bắt rễ trong các hốc tường đen xám.

Annie tuyên bố:

–         Dù sao, em cũng thấy chỗ này thật là tuyệt! Vừa tuyệt vừa đẹp vô cùng!

Claude hỏi, hớn hở:

–         Cậu nghĩ thế thật đấy à? Thế thì mình thích lắm! Các cậu hãy nghĩ xem, chúng ta đã ở phía bên kia của đảo rồi, quay mặt ra biển cả. Các cậu có trông thấy trên những tảng đá to đằng kia có bao nhiêu là chim to tướng đậu không?

Bọn trẻ nhìn theo phía tay chỉ. Chúng thấy có mấy tảng đá nhô lên khỏi mặt nước và có những con chim lạ màu đen tuyền đậu bên trên.

Claude giải thích:

–         Đó là những con chim công cốc. Có lẽ chúng đã ăn quá nhiều cá và bây giờ đậu ở đó để tiêu cá cho yên tĩnh. Kia kìa! Chúng bay lên cùng một lúc kìa, không hiểu tại sao lại thế nhỉ!

Câu hỏi của Claude chẳng mấy lúc đã được trả lời. Bỗng nhiên, từ phía tây nam, một tiếng gầm dữ dội vang lên. Claude kêu lên:

–         Bão đến! Bắt đầu rồi đây! Bão nổi lên sớm hơn là mình dự đoán!

Chương 6 – Và trận bão đã làm nên một sự kỳ diệu

Ba anh em nhà Gauthier sửng sốt nhìn ra biển. Chúng quá mải mê xem toàn lâu đài cổ, nên không đứa nào để ý đến sự thay đổi đột ngột của thời tiết. Một tiếng sấm rền thứ hai lại nổi lên tưởng như có một con chó rõ to gầm gừ sau những đám mây. Ngay chính con Dagobert cũng nhầm và gầm gừ trả lời lại.

Claude hơi hoảng, lẩm bẩm:

–         Thôi chết, thế là chúng mình bị kẹt ở đây. Chúng ta không thể về nhà đúng giờ đã định được, điều đó là cái chắc. Gió thổi ngày càng mạnh. Mình chưa bao giờ trông thấy trời ngập mây một cách nhanh chóng như vậy.

Lúc bọn trẻ ở nhà đi, trời còn một màu xanh ngắt, bây giờ đen kịt và những đám mây lớn màu tối sẫm trôi nhanh rất thấp. Chúng như đang chạy trốn trước một kẻ thù vô hình. Gió rít lên nghe ghê rợn, khiến Annie cảm thấy hoảng sợ.

Francois nhìn một giọt nước lớn rơi trên tay mình và nói:

–         Mưa rồi đây này, có lẽ chúng ta phải trú vào đâu đó chứ! Cậu thấy thế nào hả Claude? Chúng mình mà cứ ở đây thì sẽ ướt như chuột lột.

Claude nói:

–         Ừ, nhưng hãy đợi một tí đã. Cậu hãy nhìn xem những ngọn sóng lớn đánh vào trong vịnh kìa. Chỉ một lát nữa chúng mình sẽ thấy nổ ra cả một cơn bão mạnh hiếm có. Trời ơi!… Chớp có ghê không!

Quả thực, những ngọn sóng ngày càng trở nên dữ dội. Quang cảnh thật hấp dẫn, biển và trời đều cùng thay đổi nhanh ghê gớm. Sóng vồng lên, ầm ĩ đập vào các tảng đá rồi tràn lên bãi biển nhỏ của đảo với một sức mạnh khủng khiếp.

Claude bỗng nói:

–         Mình nghĩ có lẽ nên kéo ca-nô của chúng ta lên cao hơn nữa. Cơn bão này có vẻ rất dữ dội. Các cậu cần biết rằng về mùa hè, bão lại lớn hơn về mùa đông nữa kia.

Francois và Claude cùng chạy đến chỗ để ca-nô. Claude có lý khi lo chuyện xấu nhất có thể xảy ra, bởi đã có những ngọn sóng lớn bao quanh chiếc ca-nô như tìm cách kéo nó ra biển.

Hai đứa trẻ kéo chiếc ca-nô theo một con dốc thoai thoải lên mãi đỉnh của dốc đá; Claude buộc ca-nô cẩn thận vào một cái rễ mọc kẹt trong đá.

Bây giờ, mưa đã như trút nước. Quần áo của Francois và Claude ướt cả. Claude vừa chạy về phía toà lâu đài vừa nói:

–         Mình mong là hai đứa kia biết chạy về cái phòng còn đủ mái và tường mà tránh mưa.

Quả nhiên về tới nơi thấy hai đứa bé đã ở đấy, cả hai đều rét run lên và có vẻ hơi sợ. Căn phòng chỉ có hai cái lỗ bé tí thông ánh sáng nên tối om.

Francois nhìn xung quanh rồi nói:

–         Hay là chúng ta đốt lửa lên cho ấm nhỉ? Không biết có thể tìm đâu được một ít củi khô nhỉ?

Như để trả lời câu hỏi của cậu bé, một toán nhỏ những con quạ vừa bay ra ngoài mưa vừa kêu chí choé. Francois kêu lên:

–         Mình rõ thật ngốc! Việc gì phải đi tìm đâu cho xa! Nhất định chúng ta sẽ thấy hàng đống củi khô ở dưới chân tháp, nơi bọn quạ làm tổ ấy mà! Nhất định trong khi làm tổ, chúng phải đánh rơi xuống đất nhiều cành lắm!

Cậu chạy dưới mưa về phía cái tháp và ôm về một mớ củi khô. Claude nói:

–         Tốt lắm, giờ chúng ta sẽ đốt lên một ngọn lửa trại. Cậu nào có giấy và diêm đấy không nhỉ?

Francois nói:

–         Mình có mấy que diêm, nhưng hình như không ai có giấy thì phải…

–         Có đấy! – Annie vội nói – Bánh mì kẹp của chúng mình bọc giấy mà! Chúng mình bỏ giấy ra, lấy giấy đó mà nhóm lửa.

–         Hay đấy! – Claude nói.

Bọn trẻ mở gói bánh mì kẹp, trải một cái khăn tay sạch lên một hòn đá phẳng, đặt bánh lên đó. Sau đó, chúng xếp củi vào trong chiếc lò sưởi còn đang dùng được, cho giấy lên trên, bỏ thêm những cành củi nhỏ. Đốt lửa lên, lửa cháy lem lém vào giấy trông thích biết bao! Giấy cháy đùng đùng, củi nhỏ cũng bén ngay vì rất nỏ. Ngọn lửa bỗng chốc reo vui và gian phòng nhỏ sáng bừng những làn ánh sáng nhảy nhót.

Bên ngoài, trái lại, giờ đã tối đen kịt. Những đám mây lớn tích điện là thấp đến gần chạm vào đỉnh tháp của lâu đài và đi nhanh vun vút. Gió thổi chúng bay về phía đông bắc, gió rú cũng khiếp như chính biển đang gầm thét vậy.

Annie sợ hãi nói:

–         Em chưa bao giờ thấy biển gầm thét dữ như vậy, thật đấy, chưa bao giờ! Em nghĩ là nó không thể nào gầm thét dữ hơn được.

Đúng như vậy. Với tiéng gió gầm thét, tiếng sóng đập vào chung quanh đảo nhỏ, bọn trẻ không ai nghe thấy ai nói gì hết. Phải gào lên mới nghe được. Mick bèn gào lên; cậu này có xúc động đến đâu cũng không quên được cái bụng đói:

–         Chúng mình ăn bữa trưa thôi! Bão to thế này còn làm được gì nữa!

Annie nói:

–         Phải lắm! Ăn ngay tại đây, bên cạnh lửa, trong gian phòng tối tăm và cổ kính này, thì thật là thú. Em nghĩ đã lâu lắm không có khách đến đây dự tiệc. Em muốn được gặp vài vị xem họ ra sao!

–         Mình thì chẳng thích gặp tí nào. – Mick nói, vẻ hơi khó chịu. Nghe nói thế, cậu ta tưởng chừng sắp có vài nhân vật thời xa xưa bước vào phòng cùng ăn với cậu. – Bão thế này đã ảm đạm lắm rồi, lại còn nói những chuyện như vậy nữa! Lại thích gặp ma à? Thật là…

Sau khi ăn bánh mì kẹp và uống bia, mọi người đều cảm thấy dễ chịu. Lửa càng bốc cao càng kêu lách tách vui vẻ. Gió thổi mạnh khiến trời trở lạnh, ngọn lửa làm cho căn phòng ấm áp hẳn lên.

Claude nói:

–         Chúng mình sẽ lần lượt thay nhau đi lấy củi khô.

Annie không chịu đi một mình. Cô cố giấu không cho mọi người biết là cô sợ bão đến mức nào, nên cố nữa thì chịu. Cô không thể nào bỏ gian phòng ấm áp này mà chạy ra ngoài mưa, trong khi sấm rền chung quanh mình như vậy. Cả Dagobert có vẻ cũng không thích bão. Nó ngồi sát vào Claude, tai vểnh lên, mỗi khi có sấm thì nó lại gầm gừ. Bọn trẻ vừa ăn vừa cho nó ăn, vì nó cũng đã đói lắm.

Thức ăn tráng miệng có mận, ngoài ra mỗi đứa còn được bốn cái bánh quy. Claude nói:

–         Có lẽ mình phải cho Dagobert cả bốn cái bánh này, vì lúc đi quên không mang bánh riêng cho nó mà nó thì có vẻ đói lắm.

Francois nói:

– Không, đừng làm thế. Chúng mình mỗi đứa sẽ cho nó một cái bánh quy. Như vậy nó cũng được đủ bốn cái mà chúng mình mỗi đứa cũng còn ba cái, thế là đủ rồi còn gì.

–         Các cậu tốt thật đấy! Này Dagobert, có phải là các cậu ấy thật tốt không?

–         Oa! – Dagobert trả lời ngay, rất đồng ý với cô chủ. Và để tỏ tình cảm của mình, nó liếm tất cả mọi người, làm cho bọn trẻ cười phá lên. Thế là nó nằm ngửa bụng lên, cho Francois cù vào bụng nó một cách thích thú.

Mick vứt thêm một nắm củi khô vào đống lửa và bữa ăn kết thúc vui vẻ. Một lúc sau, Francois lại chạy đi lấy củi khô. Cậu bé chạy ra ngoài và đứng im một lát; mưa chảy tràn trên mái tóc cắt ngắn của cậu.

Bây giờ bão hình như đang gầm rú ngay trên đỉnh toà lâu đài. Một ánh chớp loé lên trong mây, kèm theo một tiếng sấm rền. Nói chung, Francois không sợ gì bão, nhưng trận bão này cũng làm cậu hơi hoảng, bởi nó thật dữ dội. Cứ khoảng ba mươi giây lại có một ánh chớp và sấm rền mạnh đến nỗi nghe như núi đổ xuống ầm ầm. Thế mà cứ im tiếng sấm thì lại nghe thấy tiếng biển gầm thét, mà tiếng gầm thét này nghe cũng rất kinh khủng. Sóng tung lên cao đến nỗi Francois đứng giữa toà lâu đài đổ nát mà cũng bị ướt từ đầu đến chân.

Cậu bé nghĩ:

“Nhất định mình phải đi xem xem sóng giống như cái gì. Mình đứng đây mà nó còn tưới ướt cả, thì chắc sóng phải to ghê lắm! Không hiểu chiều nay bọn mình làm thế nào mà về nhỉ? Chẳng sợ! Lúc nãy, Annie đã hỏi và Claude đã bảo là bão kiểu này thường không kéo dài mà!”

Cậu bèn ra khỏi toà lâu đài và trèo lên một bức tường đổ. Trèo được lên rồi, cậu đứng thẳng, nhìn ra biển; cảnh tượng cậu trông thấy thật vượt xa tất cả những gì cậu có thể tưởng tượng ra.

Những ngọn sóng trông như những bức tường nước vĩ đại màu xanh xám. Chúng tấn công vào các vách đá bao quanh đảo Kernach và bọt sóng tung lên, màu trắng sáng lấp lánh trong bầu trời giông bão. Những ngọn sóng đập vào các vách đá mạnh đến nỗi Francois cảm thấy bức tường rung lên dưới chân mình.

Cậu bé đứng im một lát, chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ đó. Có lúc cậu cũng nghĩ không biết biển cả có khi nào đó làm ngập cả hòn đảo đi không. Những nghĩ đi nghĩ lại, cậu tự bảo nếu việc đó xảy ra thì đảo đã bị ngập từ đời tám hoánh nào rồi. Cậu cứ đứng im ngắm nghía mãi, bỗng nhiên trông thấy trên sóng có một vật gì rất lạ…

Vật đó hiện rõ trên mặt biển, bên ngoài vành chắn sóng, đang bị sóng giồi lên giồi xuống. Đó là một đám màu thẫm, hình như là mới từ đáy biển hiện lên và đang cố sức giữ cho thăng bằng trên biển động. Không biết cái gì đấy nhỉ?

Francois tự nghĩ “Chẳng lẽ lại là một cái tàu sao?”. Cậu bé bỗng cảm thấy tim mình đập mạnh, mắt cậu cố giương hết sức để chọc thủng màn mưa và nhìn qua ngọn sóng. “Không, không thể là một cái tàu được, nhưng mà cái của này trông cũng giống một cái tàu. Nếu là cái tàu thực thì thật là bất hạnh. Nhất định những người trên tài không thể thoát khỏ trận bão kinh khủng này.”

Cậu cứ đứng một lúc lâu theo dõi vật lạ. Cái đám màu sẫm lại hiện lên trên một ngọn sóng, rồi lại biến mất trong một vực thẳm. Francois quyết định phải báo cho các em biết; cậu chạy vội về gian phòng vẫn còn ấm hơi lửa. Cậu kêu to lên:

–         Claude! Mick! Annie! Trên mặt biển có cái gì rất lạ nổi lên phía ngoài các mỏm đá nhọn và ở ngoài khơi đảo này. Trông giống như một cái tàu, nhưng hình như cũng không phải là một cái tàu! Nhanh lên, ra mà xem này!

Ba đứa trẻ nhìn Francois một cách ngạc nhiên rồi đứng vụt dậy. Claude vội vàng vứt thêm vào đống lửa mấy cành củi nhỏ để giữ lửa khỏi tắt rồi mới chạy theo mấy đứa kia.

Bên ngoài, trời vẫn còn mưa nhưng cơn bão có vẻ đã dịu dần. Những ánh chớp thưa dần đi và những tiếng sấm rền, nghe ngày càng xa. Francois đưa cả bọn đến gần bức tường trước đó cậu đã trèo lên để xem biển.

Ba đứa trẻ cũng trèo lên theo và tò mò ngắm nhìn biển nước mênh mông. Mới đầu, chúng chỉ trông thấy những ngọn sóng khổng lồ màu xanh xám đang ào ào chạy từ chân trời xa tắp đến tấn công vào đất liền. Sóng tung lên trên các mỏm đá và nhảy lên đảo như thể muốn nhấn chìm cả hòn đảo xuống biển. Annie níu chặt lấy tay Francois, em cảm thấy hoang mang lo sợ.

Francois gào lên để át tiếng sóng: “Cứ yên trí, Annie đừng sợ! Hãy nhìn ra phía kia kìa… chỉ một hay hai phút nữa thôi là em sẽ thấy một cái này rất lạ…”

Bốn cặp mắt đều hướng ra phía tay chỉ. Mới đầu chúng chẳng nhìn thấy gì vì sóng to quá chắn hết cả mọi hướng nhìn. Bỗng nhiên, Claude dường như trông thấy một cái gì đó. Em kêu lên:

–         Trời đất ơi, có một cái tàu thật! Đúng là một cái tàu! Cái tàu ấy đang bị đắm hay sao thế? Một cái tàu thật… Không phải một cái thuyền buồm, hay một cái tàu đánh cá bình thường!

Cô bé Annie tội nghiệp rên rỉ: “Ôi, miễn là không có ai còn ở trên tàu!”

Bốn đứa trẻ tiếp tục theo dõi con tàu đang di chuyển; Dagobert cũng nhìn thấy, nó liền sủa ông ổng. Con tàu kỳ lạ nghiêng ngả trên sóng sang trái, sang phải, mà hình như những con sóng lại đưa nó lại gần hòn đảo.

Francois tiên đoán:

–         Nó sắp va phải những mỏm đá nhọn vỡ tan ra bây giờ!… Trông kìa, nó đang lao thẳng đến các mỏm đá!

Em vừa nói xong thì con tàu kêu lên răng rắc một cách thê thảm và chạy thẳng lên đập vào những mỏm đá nhọn hoắt ở phía tây nam hòn đảo. Nó đứng đó, mỗi khi có ngọn sóng lớn nào ào đến phía dưới và nâng nó lên thì nó lại lắc lư nhẹ nhàng. Claude nói:

–         Thế là nó đã phải đứng yên rồi đó, mình chắc là nó không thể cựa được nữa đâu. Thuỷ triều sắp xuống, cà cái tàu sẽ bị mắc cứng vào đá thôi.

Ngay lúc đó, một tia nắng nhàn nhạt bất ngờ ló ra khỏi đám mây rồi lại tập tức tắt ngay.

–         Tuyệt! – Mick kêu lên phấn khởi – Thời tiết có vẻ muốn đẹp trở lại rồi. Chúng mình sắp có thể hong khô quần áo và sưởi nắng… Chúng ta có lẽ cũng có thể lại gần xem cái tàu tội nghiệp kia nó giống cái gì. Ôi! Francois, em mong là không còn ai ở trên tàu! Em mong là đoàn thuỷ thủ đã kịp tháo chạy và hiện nay đang ở nơi an toàn nào đó trên đất liền.

Những đám mây tụ bắt đầu tan dần, gió đã thôi không thổi thành cơn bão nữa mà trở thành một làn gió heo may, tuy còn khá mạnh. Một lúc sau, mặt trời ló ra lâu hơn lần trước, và bọn trẻ sung sướng hưởng những tia nắng ấm nóng. Bọn chúng không thôi ngắm nghía chiếc tàu mắc vào những mỏm đá. Bỗng nhiên, một tia nắng chiếu thẳng vào cái tàu và làm nó sáng rõ lên. Francois nói:

–         Cái tàu này trông kỳ lạ thật. Đúng đó, mình thấy nó có vẻ rất kỳ lạ. Mình chưa trông thấy cái tàu nào giống như nó bao giờ.

Claude cũng nhìn cái tàu đắm một cách ngạc nhiên. Bỗng nhiên đôi mắt xanh của cô sáng lên, cô quay lại các anh, và bọn này ngạc nhiên không hiểu sao mắt cô lại sáng long lanh như thế. Cô bé có vẻ rất xúc động, muốn nói với các anh điều mình mới phát hiện ra, nhưng không nói ra lời.

Francois cầm lấy tay cô bé và hỏi:

–         Thế nào, có chuyện gì đấy em?

Claude kêu lên bằng một giọng đầy phấn hứng:

–         Francois… ôi Francois… đó là cái xác tàu của mình! Cậu có hiểu là cái gì đã xảy ra không? Trận bão đã làm con tàu long ra khỏi nền cát ở dưới đáy biển và tàu lại nổi lên mặt nước. Thế là sóng giồi nó lên các mỏm đá. Mình nói chắc chắn đó là cái xác tàu của mình!

Bọn trẻ xác nhận rất nhanh Claude nói có lý. Đúng là cái tàu cổ bị đắm bây giờ đã nổi lên, chẳng trách trông nó rất kỳ lạ. Đó là một cái tàu từ thời cổ có hình dáng rất đặc biệt. Đúng là cái xác tàu của Claude, nổi lên từ những tầng sâu, ở đó nó đã ngủ yên từ đời nảo đời nào và bây giờ lại mắc kẹt vào đá ngay gần chúng.

Francois sướng như điên, kêu lên:

–         Claude! Bao giờ có thể được, chúng mình sẽ cho ca-nô xuống nước và chèo đi xem thật gần xác tàu. Bây giờ có muốn vào bên trong xem có lẽ cũng dễ dàng. Chúng mình sẽ đi xem nó từ đầu đến cuối và biết đâu chúng mình lại chẳng tìm ra số vàng đã mất. Ôi! Claude!

Chương 7 – Trở về biệt thự Hải Âu

Bốn đứa trẻ vì quá ngạc nhiên nên im lặng một lúc lâu không nói thêm lời nào. Bọn chúng không thể rời mắt khỏi cái xác tàu và tự hỏi không hiểu chúng sẽ tìm thấy gì ở bên trong. Francois bỗng nắm tay Claude thật chặt:

–         Có phải thật tuyệt không Claude? Ôi! Claude, thật là một điều lạ kỳ, em có thấy thế không?

Claude tiếp tục nhìn xác tàu, vẫn im lặng. Một lát sau mới khẽ thở dài:

–         Không hiểu sau khi nổi lên mặt nước, cái xác tàu có còn là của mình nữa không? Mình không hiểu có phải các xác tàu đều thuộc nhà nước quản lý hay không? Cái tàu đắm này thời trước kia là của riêng gia đình nhà mình, chẳng ai nghĩ đến nó khi nó còn chìm sâu dưới nước… Nhưng bây giờ, khi nó lại nổi lên mặt nước rồi thì anh bảo người ta có còn để nó cho em không?

Mick góp ý:

–         Có gì đâu, đơn giản lắm, đừng nói chuyện này với ai hết!

Claude lầu bầu:

–         Cậu đừng ngốc như vậy. Rõ ràng bất cứ người đánh cá nào lảng vảng đến gần chỗ này cũng sẽ trông thấy ngay nó và sẽ nói chuyện cho người khác biết. Chẳng mấy lúc mà tất cả mọi người sẽ biết chuyện.

–         Vậy thì chúng mình phải đi thám thính cái tàu cổ này nhanh nhanh trước khi người khác biết mà trèo lên nó. – Mick hăng hái góp ý – Hiện nay chưa ai biết ngoài chúng ta. Có lẽ chúng mình có thể trèo lên tàu sau khi thuỷ triều xuống đấy nhỉ!

–         Cậu đừng tưởng dễ – Claude nói – Không thể nào đi bộ ra chỗ tàu mắc cạn được. Có thể đi ca-nô đến gần nhưng trong lúc này vẫn còn rất nguy hiểm: biển còn đang động mạnh. Dù thuỷ triều xuống, trời bão như thế này, điều mong muốn đó cũng sẽ nguy hiểm, mình nói thật đấy!

Francois gợi ý:

–         Nếu vậy thì tại sao sáng mai, chúng ta không thể quay lại sớm được? Mình nghĩ rằng từ giờ đến lúc đó cũng chưa có ai lảng vảng đến đây. Mình cho rằng nếu chúng mình là những người đầu tiên trèo lên tàu, thì sẽ tìm thấy một cái gì đó… nếu còn có cái để tìm.

–         Có thể được. – Claude đồng ý – Mình đã nói với các cậu là nhiều thợ lặn đã lặn xuống và tìm kiếm trong xác tàu kỹ hết sức, nhưng mình nghĩ rằng kiểu tìm tòi như vậy ở dưới đáy biển không dễ dàng gì lắm, có thể có cái đáng tìm mà không thấy… Tất cả những chuyện này mình như thấy trong mơ, mình không thể tưởng tượng nổi cái xác tàu của mình lại có thể nổi lên mặt nước như vậy!

Mặt trời bây giờ đã lộ hẳn ra, quần áo ẩm ướt của bọn trẻ bắt đầu khô, một làn hơi nhẹ bốc từ những áo len, quần soóc… và cả từ bộ lông của Dagobert. Trái với bọn trẻ, con chó không có vẻ thích thú lắm với sự xuất hiện của cái xác tàu, nó vừa gầm gừ vừa nhìn ra biển. Claude xoa đầu nó và nói:

–         Sao mày ngốc thế hở Dago! Có gì mà sợ. Đó chỉ là một cái tàu cũ thôi.

Annie cười phá lên:

–         Có lẽ nó tưởng đó là một con cá voi chắc! Ôi! Claude ơi! Thật là một ngày đáng ghi nhớ nhất trong đời mình! Thật không thể làm cách nào lấy ca-nô và bơi ra gần cái xác tàu được hả cậu?

–         Không thể được. Chính mình có phải không muốn ra đâu cơ chứ! Nhưng không thể nào được. Trước hết, theo mình, hình như cái vỏ tàu cũng chưa thật bám chắc vào đá, biết đâu khi thuỷ triều xuống, nó lại chẳng rời ra. Mình thấy mỗi khi có một ngọn sóng to ập vào thì nó lại lắc lư. Cho nên bây giờ trèo ngay vào thì còn đang nguy hiểm. Vả lại mình không muốn ca-nô của mình bị va vào đá mà vỡ tan ra, nếu chúng mình không cẩn thận thì rất có thể xảy ra như vậy. Không được, Annie ạ, phải đợi đến ngày mai thôi. Ý cậu rất hay, Francois ạ. Mai chúng mình sẽ tìm cách ra đây thật sớm, còn từ giờ đến đó phải im lặng. Khi mà người lớn đã biết chuyện, là thể nào họ cũng cho rằng chỉ có người lớn mới có quyền thám thính trong cái xác tàu cho mà xem.

Bọn trẻ tiếp tục ngắm nghía cái các tàu một lúc nữa rồi quay lại đi xem đảo. Đảo Kernach không lấy gì làm rộng, nhưng trông rất đặc biệt với bờ biển đá nhấp nhô, bến cảng bé nhỏ kín đảo, với toà lâu đài cổ đổ nát, với đám chim huyên náo ầm ĩ và đám thỏ rừng vui vẻ chạy lung tung khắp chốn.

Annie thủ thỉ với Claude:

–         Mình yêu chỗ này lắm. Mình yêu nó thật đấy! Không thể nói gì hơn được. Hòn đảo của cậu có kích thước vừa đủ để có thể gọi được là hòn đảo. Những đảo rộng quá làm cho người ta không có cảm tưởng là đang ở trên đảo. Cậu có hiểu mình nói gì không? Lấy ví dụ như nước Anh mà xem. Đó là một hòn đảo nhưng những cư dân trên đó không biết mình đang ở trên đảo nếu không có người nói cho họ biết. Còn hòn đảo của cậu thì không thể lừa ai được bởi quay phía nào cũng nhìn ngay thấy biển. Mình chưa bao giờ thấy cái gì đẹp hơn cái đảo này!

Nghe Annie nói như vậy, Claude thấy trong lòng vui sướng lạ lùng. Trước kia, cô rất hay đến đảo, nhưng lúc nào cũng chỉ đi một mình với Dagobert. Cô đã tự hứa với mình là không bao giờ đưa người thứ hai nào đến giang sơn của cô, cô cho rằng có người lạ sẽ làm cho hòn đảo của cô mất giá trị. Nhưng cô đã tự bỏ lời hứa, đã đưa các anh chị em họ đến thăm giang sơn kỳ ảo của cô và, trái với điều cô nghĩ, bây giờ giang sơn này của cô lại càng tăng thêm giá trị biết bao. Lần đầu tiên, Claude cảm thấy rằng khi có niềm vui mà có người chia xẻ thì niềm vui đó được tăng lên gấp bội.

Claude nói:

–         Chúng ta hãy đợi một chút cho sóng lặng bớt rồi trở về nhà. Mình thấy có vẻ như sắp mưa và chúng ta lại sắp bị ướt nữa. Nhưng có về đến nhà cũng phải quá giờ ăn trưa: chúng ta phải chèo ngược sóng đó.

Suốt cả buổi sáng đó có bao nhiêu chuyện đáng xúc động xảy ra, bây giờ bọn trẻ cũng thấy hơi mệt. Trong lúc chèo trở về, chúng ít nói hẳn đi. Chúng thay nhau chèo thật lực, chỉ trừ Annie còn nhỏ quá không đủ sức chống với sóng đánh ngược. Vừa đi xa khỏi hòn đảo, thỉnh thoảng chúng quay lại nhìn, nhưng không thể trông thấy được xác tàu, vì nó ở phía tây đảo, quay mặt ra biển khơi.

Francois nói:

–         Thật may mà nó lại ở về phía bên đó. Như vậy thì từ đất liền nhìn ra, không ai có thể trông thấy nó được. Sáng mai chúng mình sẽ quay lại thám thính nó thật sớm, vào lúc chưa có một người đánh cá nào ra biển. Mình đề nghị chúng ta phải dậy từ sớm tinh mơ.

Claude gật đầu:

–         Đúng, phải dậy sớm như vậy. Nhưng các cậu có thể dậy sớm được không? Với mình, thì thỉnh thoảng mình đã có ra đi từ lúc mờ đất, nhưng mình chỉ sợ các cậu không quen.

Francois nói:

–         Cậu đừng lo, bọn mình sẽ dậy đúng giờ… A, sắp đến rồi đây này, mình thích quá, các cậu biết không? Chèo thuyền rã cả cánh tay rồi! Và mình lại thấy đói nữa, có lẽ mợ Cécile bày món gì lên bàn, mình cũng chén hết sạch.

–         Oa! – Dagobert sủa lên, ra ý đồng tình với sự sẵn sàng chén như vậy. Claude nhảy ra khỏi ca-nô và nói:

–         Mình còn phải mang Dagobert đến cho Jean Jack. Francois, cậu hãy kéo ca-nô lên bãi cát, đợi mình một phút, mình về ngay.

Một lúc sau, bốn đứa trẻ ngồi quanh bàn ăn trưa. Mợ Cécile chia cho mỗi đứa một bát sô-cô-la nóng hổi ăn với bánh mì phết bơ và một cái bánh ga-tô to tướng làm đặc biệt để thết các cậu. Các vị khách thấy cái bánh ngon quá, đến nỗi không để lại trên đĩa lấy một mảnh vụn nào cả. Chúng tuyên bố chưa bao giờ được ăn thứ bánh gì ngon hơn thế.

Mợ Cécile đợi cho bọn chúng lửng dạ rồi mới hỏi:

–         Thế nào, các con hôm nay chơi có vui không?

Annie vội vã trả lời:

–         Ô, có đấy ạ! Chúng cháu đã được chứng kiến một trận bão tuyệt đẹp và chúng cháu đã thấy nó đổ lên những mỏm đá…

Francois và Mick đá cho Annie mỗi đứa một cái ở dưới gầm bàn. Claude cũng định đá cho nó một cái, nhưng nó ngồi hơi xa thành ra đành chịu. Annie tức giận nhìn hai anh và nước mắt ứa ra.

Mợ Cécile vội hỏi:

–         Làm sao thế cháu? Annie, có đứa nào lại đá cháu phải không? Mợ nói thật, các cháu ạ, mợ không thích cái kiểu như thế, nếu các cháu cứ làm thế mãi, thì bé Annie tội nghiệp sẽ tím bầm hết cả chân cho mà xem! Thế nào, cháu yêu của mợ, cháu thấy cái gì đổ lên các mỏm đá?

–         Cháu thấy các ngọn sóng cao như mái nhà, – Annie vừa trả lời vừa nhìn bọn trẻ một cách đắc thắng. Nó hiểu rằng cả ba đứa đều nghĩ là nó sẽ trả lời: “thấy cái xác tàu của Claude”, nhưng thực ra nó không định nói thế. Bọn chúng hiểu nhầm nên đã đá oan nó mất mấy cái.

Francois xin lỗi:

–         Em tha lỗi cho anh vì đã làm em đau, chân anh nó buột ra bất ngờ.

–         Chân anh cũng vậy. – Mick nói. – Đúng thế, mợ Cécile ạ, chúng cháu đã được chứng kiến một trận bão kinh khủng đổ lên trên đảo. Những con sóng chạy từ chân trời đến, to đến nỗi chẳng mấy lúc chúng đổ đầy cái bến cảng bé tí. Chúng cháu phải kéo cái ca-nô lên mãi tận trên đỉnh dốc đá, nó mới khỏi bị sóng cuốn trôi.

Annie có vẻ sung sướng nói tiếp:

–         Thực ra, cháu cũng không sợ bão lắm. Dù sao, cháu cũng chỉ sợ bằng nửa Da…

Lần này, không ai còn nghi ngờ gì là Annie đang sắp sửa nói đến Dagobert. Bởi vậy ba đứa kia vội vàng nói chặn, cướp ngang lời nó, mà ba đứa cùng nói một lúc. Francois không nhịn được, lại tiếp tục đá cho em một cái nữa dưới chân bàn. Annie kêu:

–         Ái!

Francois kêu to:

–         Ở trên đảo có rất nhiều thỏ không biết sợ người, mợ ạ.

–         Chúng cháu trông thấy cả chim hải âu. – Mick hét lên.

Còn Claude thì thêm:

–         Còn bọn quạ thì quang quác đến nhức đầu nhức óc.

Mợ Cécile bật cười:

–         Chính bọn cháu cũng làm ầm lên như tất cả bầy chim họp lại. Ai lại cả ba đứa nói một lúc như vậy. Thế nào, ăn xong chưa? Nào bây giờ đi rửa tay nhanh lên. Đúng rồi, Claude, mẹ biết tay con dính đầy mứt mà. Chính mẹ làm bánh mà lại, nên mẹ biết rất rõ là lúc nhồi mứt quả vào thì tay bẩn như thế nào. Sau đó, các con nên sang phòng bên cạnh chơi cho yên lặng, vì trời đang mưa nên không ra ngoài được đâu. Nhưng Claude phải chú ý đừng để các anh làm phiền đến bố, bố đang làm việc.

Bọn trẻ đi rửa tay. Francois nói rít qua kẽ răng:

–         Con bé ngốc này, tí nữa thì làm lộ bí mật những hai lần liên tiếp.

Annie phản đối:

–         Không phải thế. Lần đầu, em có định nói về cái xác tàu đâu nào…

Claude ngắt lời:

–         Thà cậu nói lộ bí mật về cái xác tàu còn hơn nói về Dagobert. Dẫu sao, phải nói là cậu có một cái lưỡi khiếp thật.

Annie công nhận, vẻ hối hận:

–         Đúng vậy thật! Thôi từ giờ trở đi, có lẽ trong các bữa ăn, mình không mở miệng ra nữa thì hơn. Tại mình yêu Dagobert quá nên mình cứ thích nói đến nó.

Sau đó, bọn trẻ sang chơi ở buồng bên cạnh. Trông thấy một cái bàn, Francois lật nó xuống đánh ầm một cái:

–         Chúng ta sẽ chơi cái xác tàu này. Tưởng tượng đây là một cái tàu, chúng ta sẽ vào thám thính nó.

Cánh cửa đằng sau bỗng mở toang, một ông giận dữ bước vào. Đó là bố của Claude. Cậu Henri hỏi:

–         Ầm ĩ lên như vậy là nghĩa thế nào? Claude! Có phải con lật ngược cái kia như vậy không?

Francois thẳng thắn nhận lỗi:

–         Thưa cậu, đó là cháu đấy ạ! Cháu quên mất rằng cậu đang làm việc.

–         Chúng bay cứ tiếp tục như vậy đi rồi sẽ bị phạt cả bốn đứa suốt ngày mai không được ra khỏi phòng. Claudine! Chú ý nhắc các anh chơi se sẽ một tí.

Ông Dorsel quay vào đóng cửa lại. Bọn trẻ sợ hãi nhìn nhau. Francois nói:

–         Bố cậu có vẻ nghiêm khắc quá nhỉ! Tại mình làm ầm quá đấy mà! Thôi từ giờ phải chú ý hơn mới được.

Claude góp ý:

–         Chúng ta tìm cách nào chơi cho yên lặng, nếu không bố mình sẽ phạt, sẽ bắt chúng mình ở trong phòng suốt cả ngày mai trong khi đang nóng lòng muốn đi xem cái xác tàu quá.

Nghĩ đến thế đã thấy sợ rồi. Annie yên lặng đi kiếm một con búp bê và chơi với nó. Lúc ở nhà ra đi, cô đã tìm cách mang theo một số lượng đáng kể các “cô con gái” của mình.

Francois lấy một quyển sách đọc. Claude thì tiếp tục đẽo một miếng gỗ thành hình một chiếc tàu. Còn Mick thì chẳng làm gì cả, chỉ nằm dài trên một cái ghế và suy nghĩ đến cuộc đi chơi sáng ngày mai. Bên ngoài, mưa rơi không ngớt, nhưng bọn trẻ nghĩ rằng đến sáng mưa sẽ tạnh.

Mick vừa ngáp vừa nói:

–         Chúng ta sáng mai phải dậy rất sớm. Vậy mình đề nghị chiều nay đi ngủ sớm. Các cậu nghĩ thế nào? Hôm nay mình chèo thuyền cũng thấy mệt.

Thông thường không đứa nào muốn đi ngủ sớm, nhưng chiều hôm nay, nghĩ đến cuộc đi chơi sáng mai thì ai cũng náo nức, vì ai cũng muốn thật khoẻ mạnh để bước vào cuộc phiêu lưu mới.

Annie bỏ búp bê xuống và nói:

–         Vả lại, nếu chúng ta đi ngủ sớm thi sẽ thấy thời gian không quá dài từ giờ cho đến sáng mai.

Nhưng Claude hơi băn khoăn:

–         Thế nhưng mẹ mình thấy chúng mình bây giờ đã đi ngủ thì sẽ nghĩ thế nào? Mẹ mình sẽ nghĩ ngay là chúng mình ốm. Không, không nên đâu, phải đợi ăn tối xong hãy đi ngủ, lúc đó chúng mình sẽ nói là chúng mình chèo thuyền mệt. Vả lại sự thực cũng là như vậy kia mà. Chúng mình ngủ cả đêm cũng đủ, sáng mai sẽ khoẻ khoắn để đi thám thính xác tàu. Rồi các cậu sẽ thấy, sẽ rất là mê ly! Không phải ai cũng có dịp được vào xem bên trong một cái tàu cổ bị đắm… nhất là sau khi nó đã nằm rất lâu dưới đáy biển.

Theo lời khuyên của Claude, bọn trẻ vừa ăn cơm xong là đi ngủ ngay. Mới có tám giờ tối, mà cả bốn đứa đã nằm im trong giường, làm cho mợ Cécile rất ngạc nhiên.

Annie vừa nằm xuống giường đã ngủ tít, cả Francois và Mick cũng vậy. Riêng Claude còn thao thức mãi không ngủ được, cô nghĩ đến hòn đảo của cô, đến cái xác tàu và đến Dagobert yêu quý. Trước khi ngủ thiếp đi, cô nghĩ:

–         Mình sẽ mang theo Dagobert, không thể để nó ở nhà được. Cũng phải cho nó tham gia vào cuộc phiêu lưu này chứ!

Chương 8 – Thám thính xác tàu

Sáng hôm sau, Francois dậy sớm nhất. Cậu mở mắt đúng vào lúc mặt trời hiện lên ở đằng đông, trên đường chân trời và bắt đầu toả những tia nắng vàng dịu ra khắp bầu trời.

Francois nằm im một lúc, mắt nhìn lên trần nhà rồi bỗng sực nhớ lại tất cả mọi việc xảy ra ngày hôm trước. Thế là cậu ngồi bật dậy và gọi khẽ nhưng cố sức nói thật rõ ràng:

–         Dậy, Mick! Dậy! Chúng ta sẽ đi thám thính xác tàu! Nào dậy đi thôi!

Mick cựa quậy, mở mắt và mỉm cười với anh. Cậu cảm thấy hết sức sung sướng. Chẳng phải là sắp bắt đầu một cuộc phiêu lưu kỳ diệu đó sao? Cậu nhảy ngay xuống đất và chạy đến phòng bọn con gái, khẽ mở cửa. Hai cô bé vẫn còn đang ngủ, Annie nằm cuộn tròn trong chăn như một con sâu.

Mick lay lay Claude và thụi cho Annie một cái. Hai cô bé tỉnh dậy và ngồi trên giường. Mick thì thào: “Dậy nhanh lên, trời sáng rồi! Chúng mình phải nhanh lên thôi!”

Đôi mắt xanh của Claude sáng rực trong khi cô mặc quần áo, còn Annie thì vội vã mặc một cái áo tắm, một cái quần ngắn và đi đôi dép cao su. Ai chuẩn bị cũng nhanh như điện cả. Khi mọi người đã ra khỏi phòng, Francois dặn:

–         Bây giờ phải đi cho cẩn thận, đừng để các bậc thang kêu cót két. Bằng bất kỳ giá nào, không ai được hắt hơi hoặc là cười đấy.

Dặn thế cũng không thừa vì Annie rất hay cười, điều đó có thể làm cho dự định của chúng thất bại. Nhưng may lần này cô bé đã cố giữ không cười và cũng cẩn thận bước xuống thang êm ả như các anh chị. Xuống hết thang, lại còn phải mở cửa. May cái cửa cũng không kêu, bọn trẻ vội chạy ra vườn, còn Francois trước khi chạy theo đã đóng cửa lại cẩn thận. Cửa vườn khi mở thường rít lên ken két, cho nên bọn trẻ thấy tốt hơn hết là trèo qua.

Mặt trời, tuy hãy còn thấp nơi chân trời, đã toả sáng rực rỡ, những tia nắng ấm dễ chịu. Bầu trời xanh ngắt một màu, làm cho Annie có cảm tưởng là trời vừa được rửa sạch. Cô bé kêu lên:

–         Cứ y như là trời mới từ hiệu giặt trở về vậy!

Bọn trẻ cười rộ. Annie nói ngộ nghĩnh tệ! Nhưng kể ra Annie nói cũng đúng. Bầu trời trông như mới tinh… những đám mây hồng trên bầu trời xanh… biển thì êm ả và mát mẻ vô cùng… Không thể tưởng tượng nổi ngày hôm trước mới có một trận bão đã làm đảo lộn tất cả!

Claude kéo ca-nô xuống nước, rồi đi đón Dagobert trong khi bọn con trai xếp các bơi chèo vào ca-nô. Cậu bé dân dài Jean Jack rất ngạc nhiên thấy Claude đến sớm như vậy, cậu cũng đang chuẩn bị đi biển với bố. Jean Jack cười rất cởi mở với Claude và hỏi:

–         Cậu Claude, cậu sắp đi chơi đấy à? Trời ơi, hôm qua bão ghê quá, cậu thấy không? Đã có lúc tôi tưởng các cậu bị bão ở giữa biển cơ đấy!

Claude trả lời:

–         Kể ra thì cậu cũng không nói sai lắm đâu. Nào Dago, đi thôi!

Dagobert rất sung sướng được cô chủ nhỏ sớm như thế, mừng quá, nó nhảy như choi choi bên cạnh Claude, có lúc làm Claude vướng nó suýt ngã. Ra đến bờ biển, thấy ca-nô, nó nhảy tót ngay vào trong, ngồi chồm chỗm phía sau, lưỡi thè lè, đuôi vẫy rối rít. Annie nhìn nó, lẩm bẩm:

– Không hiểu sao cái đuôi nó còn dính được mãi với người nó. Cứ vẫy rối rít như thế kia suốt cả ngày, thế nào cũng có phen rụng lúc nào không hay.

Bọn trẻ cho ca- nô đi thẳng ra đảo. Hôm nay biển trong vịnh Kernach êm như nhung, thành ra bơi ca-nô trở thành một thú vui khôn tả. Ca-nô đi vòng quanh đảo để cập đảo từ phía ngoài khơi.

Và kia, cái xác tàu hiện ra, sừng sững đè trên sóng. Bây giờ nó đã mắc cứng vào đá nên sóng đánh vào, nó cũng không động đậy nữa. Nó nằm hơi nghiên trên đá, chiếc cột buồm vốn gãy, lại vừa bị bão cuốn đi thêm một mẩu nữa, vươn lên như một cánh tay cầu cứu. Francois hào hứng nói:

–         Cái xác tàu đây rồi, tội nghiệp nó! Trông nó lại còn thảm hại hơn trước nữa. Các cậu có nhớ lúc bị sóng đánh dạt lên đá, nó kêu lên ghê gớm như thế nào?

–         Chúng mình làm thế nào bơi đến gần nó được nhỉ? – Annie vừa hỏi vừa e ngại nhìn những mỏm đá lởm chởm vây quanh xác tàu.

Riêng Claude có vẻ vẫn bình tĩnh. Cô thuộc lòng bờ biển xung quanh hòn đảo của cô, cùng những hiểm nguy ngầm dưới biển và biết cách tránh chúng. Cô chèo luồn lách rất khéo léo và đưa được thuyền vào sát gần xác tàu.

Từ dưới ca-nô, bọn trẻ ngước lên ngắm con tàu cũ kỹ. Trông gần, tàu rất to, to hơn nhiều so với lúc nhìn nó dưới nước. Vỏ tàu bị đủ các loại hà ốc bám, lẫn với rong rêu đủ thứ quấn loằng ngoằng. Nó lại bốc mùi là lạ. Sườn tàu mới bị vỡ nhiều chỗ, do bị va mạnh khi lao lên đá. Trên boong tàu cũng có nhiều lỗ hổng trông thấy được vì tàu nằm nghiêng. Toàn cảnh nom có vẻ hoang vu buồn bã, nhưng bọn trẻ cũng vẫn rất vui sướng được xem con tàu.

Claude cho ca-nô đến gần những mỏm đá đỡ chiếc tàu và nhìn chung quanh. Cô quyết định:

–         Chúng ta sẽ buộc ca-nô vào ngay tàu, rồi chúng ta sẽ bám vào vỏ tàu mà lên. Chú ý này, Francois! Cậu thử ném cái nút thòng lọng này lên mẩu gỗ thò ra phía trên kia, buộc vào xem nó có đủ sức chịu đựng chúng ta trèo lên không.

Francois làm theo, kéo thử sợi dây thấy mảnh gỗ còn chắc. Claude leo lên đầu tiên, nhanh nhẹn như một chú khỉ nhỏ; Francois và Mick cũng leo lên được, riêng Annie thì phải giúp đỡ một tí. Cả bọn đã ở trên boong tàu, mặt boong trơn như mỡ, mùi tanh nồng nặc, làm cho Annie khó chịu. Claude lẩm bẩm:

–         Thế ra đây là boong tàu đây. Và kia chắc là cửa cầu thang để cho đoàn thủy thủ lên xuống.

Nó chỉ một lỗ hổng trên sàn, nhìn qua đó còn thấy lờ mờ những bậc thang bằng sắt. Cả bốn đứa đều cúi nhìn xuống, mắt căng ra chọc thủng màng tối. Claude nói:

–         Mình cho rằng cầu thang này còn đủ chắc để chúng ta trèo xuống được. Mình sẽ xuống trước. Có ai mang đèn pin đi không? Dưới này tối đen như mực.

Francois móc túi đưa cho Claude đèn của mình. Cả bọn đều yên lặng. Không khí chung quanh có vẻ bao trùm bí hiểm. Cả bọn cũng hơi sờ sợ. Không biết bên trong xác tàu sẽ có cái gì?

Claude bấm đèn và dũng cảm trèo xuống cửa cầu thang, cả bọn thấy thế cũng theo xuống. Ánh sáng ngọn đèn nhỏ soi rõ một quang cảnh kỳ lạ. Bên trong xác tàu có trần thấp lót bằng một lớp gỗ sến rất dày. Bọn trẻ phải vừa đi vừa cúi thấp đầu, lần theo một lối có lẽ ngày xưa là hành lang. Bên trái, bên phải, có thể đoán lờ mờ chỗ những ca bin cũ, thực ra chẳng trông thấy cái gì rõ rệt, vì tất cả đã bị tàn phá, rong rêu mọc trùm lên cả. Mùi xông ra còn kinh tởm hơn ở trên boong, vì vừa lẫn lộn mùi gỗ mục với mùi rong rêu thối rữa.

Các nhà thám hiểm nhỏ tuổi vừa đi vừa trượt trên sàn trơn như mỡ. Tuy vậy, cũng quan sát được một số thứ. Lòng tàu thực ra cũng không rộng lắm như lúc đầu tưởng. Bên dưới các ca bin, có một gian hầm rộng, chúng dùng đèn soi đi quét lại kỹ. Francois nói:

–         Mình nghĩ rằng ngày xưa người ta cất giữ các hòm vàng ở đây.

Nhưng than ôi, vàng đã biến mất rồi, và chúng chẳng thấy gì ngoài nước và đàn cá bơi lội tung tăng. Chúng cũng không thể xuống sâu hơn được, vì phần dưới đã ngập nước. Tuy nhiên, cũng có thể khẳng định rằng không hề còn tí vàng nào vương vãi trên nền sàn thủng tứ tung. Cũng có một vài chiếc thùng lớn trôi lềnh bềnh, nhưng nắp đã mất từ lâu và lòng thùng trống rỗng!

Claude nói:

–         Những thùng này ngày xưa chắc dùng để chứa nước ngọt, hoặc đựng thịt hay bánh dự trữ. Chúng mình quay lại xem các phần khác trong tàu đi. Mình muốn xem lại chỗ trước kia là các ca bin. Được ngắm nhìn chỗ nằm của những người cổ xưa thì thích thú biết bao… Trông kìa, có mấy cái ghế gỗ, bao nhiêu năm rồi mà chúng vẫn còn đấy… Ô kìa, nhìn sang bên này mà xem, trông như là những cái móc đóng vào vách gỗ. Những móc này gỉ hết rồi, nhưng ngày xưa chắc dùng để treo xoong nồi đấy.

Cuộc thám thính cái xác tàu vẫn tiếp tục. Bọn trẻ chưa hết hi vọng. Chúng sục vào từng xó một, mong tìm ra những hòm vàng kỳ diệu mà Claude đã nói chuyện với chúng, nhưng chẳng thấy một cái hộp nhỏ nào hết, dù là hộp không.

Cuối cùng, chúng vào tới một ca bin rộng hơn những cái trước một chút. Trong góc, thấy có một cái giường, trên giường, một chú cua to tướng đang nằm, giương đôi mắt thô lố. Có một vài dấu vết chứng tỏ đã có bàn ghế ở đây. Trông hình như trước có một cái bàn kê sát giường nằm. Nhưng hiện nay cái bàn đó chỉ còn sót lại hai cái chân cũng đã bị hà bám chặt. Có một vài cái kệ bằng gỗ, rong rêu bám đầy, còn mắc lòng thòng trên vách gỗ.

Francois đoán:

–         Ca bin này chắc là của thuyền trưởng, vì nó rộng nhất. Kìa có cái gì trong góc kia?

Annie cầm lấy vật đó và nói:

–         Một cái chén cũ. Và đây là nửa cái đĩa tách. Em tưởng tượng ông thuyền trưởng ngồi ở cái bàn này uống một chén cà phê. Đúng lúc đó thì tai họa xảy ra…

Nhắc đến chuyện đắm tàu, bọn trẻ đứa nào cũng bùi ngùi, chúng tự dưng cảm thấy khó thở trong gian phòng tối tăm và hôi hám này, sàn thì trơn như đổ mỡ dưới chân chúng. Bản thân Claude cũng cảm thấy giá cái xác tàu cứ nằm ở dưới đáy biển lại hoá hay. Cô rùng mình và nói:

–         Thôi chúng ta đi đi. Mình không thích chỗ này lắm. Cũng có nhiều cái lạ đấy, nhưng mình cũng thấy sờ sợ thế nào ấy.

Bọn trẻ đang sắp sửa đi ra, thì Francois cầm đèn lướt một lần cuối khắp gian phòng. Cậu sắp tắt đèn để đi theo các em lên boong thì bỗng nhìn thấy một vật làm cho cậu dừng ngay lại. Cậu nhìn thật kỹ rồi gọi:

–         Này! Hãy đợi một chút! Mình thấy có cái gì hình như cái tủ ở trong vách phòng. Thử xem bên trong có gì không?

Cả bọn quay lại và cùng nhau quan sát. Quả nhiên có một cái gì như cái tủ đặt giữa lớp vách gỗ dày. Chính vì nhìn thấy có lỗ khoá nên Francois mới chú ý: nhưng chỉ có lỗ khoá, không có khoá. Francois lòng đầy hy vọng lấy tay cậy cánh tủ, nhưng không làm sao lay chuyển nổi. Cậu nói:

–         Tủ khoá chặt rồi, chắc là trong có đựng cái gì quý lắm, kho vàng chẳng hạn.

Claude cũng lấy ngón tay thử mở nhưng không được. Em nói: “Khoá gỉ hết rồi”. Em liền lấy trong túi ra một con dao, mở lưỡi ra và lách vào khe tủ, ấn một cái, cánh cửa bật ra, mở tung. Francois chiếu sáng lòng tủ và chúng nhìn thấy một cái ngăn, trên để một vật rất lạ.

Đó là một cái hòm gỗ, ngâm lâu dưới nước, gỗ đã phồng lên. Ngay bên cạnh có những thứ gì giống như những cuốn sách, nhưng đã nát nhoét cả ra rồi và một vài dụng cụ đi biển, gỉ đến nỗi không còn nhận ra là những thứ gì nữa.

Francois tuyên bố:

–         Trừ cái hộp ra, chẳng có gì đáng chú ý cả.

Mick nói:

–         Có thể những thứ để bên trong hộp cũng đã bị hỏng như các thứ khác. Chúng ta thử tìm cách mở xem sao.

Francois và Claude cùng góp sức bật cái nắp ra. Nắp hộp được chạm trổ tỉ mỉ và có ghi hai chữ đầu tên: H.K,

Mick nói:

–         Có lẽ đây là chữ đầu tiên của thuyền trưởng.

–         Không phải đâu! Claude kêu lên, hai mắt bỗng long lanh sáng ngời. – Đó là hai chữ đầu tên của tổ ngoại mình, đúng rồi! Mẹ mình vẫn nói đến cụ luôn. Cụ tên là Henri Kernach và chiếc tàu này là của cụ. Cái hộp này chắc là hộp riêng của cụ. Mình cho rằng cụ dùng để đựng những giấy tờ quan trọng riêng! Ôi! Làm thế nào mà mở được hộp ra nhỉ?

Nhưng chỉ có một con dao của Claude thì không tài nào mở được hộp. Bọn trẻ đành chịu, và Francois cắp hộp vào nách mang về:

–         Về nhà, chúng mình sẽ lấy kìm búa để mở nó. Cậu thấy không, Claude, cuối cùng, chúng mình cũng tìm thấy một cái gì đó chứ!

Bốn đứa trẻ có cảm giác là chúng đã tìm thấy một cái gì rất quý giá. Bao quanh hộp có một màn bí mật làm cho nó càng có vẻ hấp dẫn. Không biết có tìm thấy gì ở trong không? Nếu có, thì là cái gì? Chúng chỉ muốn bay ngay về nhà để khám phá ra điều bí mật này.

Chúng trèo thang sắt và lên trên boong tàu. Vừa ra đến ngoài ánh sáng, chúng thấy ngay là đã có nhiều người phát hiện ra xác tàu.

Trông đám thuyền đang thi nhau bơi lại gần xác tàu, cái nào cũng muốn càng đến gần hơn càng tốt, Francois kêu lên:

–         Trời ơi! Có lẽ gần hết số thuyền đánh cá ở vịnh Kernach đều hẹn gặp nhau ở đây chắc!

Những người đánh cá đều sửng sốt ngắm xác tàu. Khi thấy bọn trẻ xuất hiện trên boong tàu, họ lớn tiếng gọi:

–         Hê! Hê! Này các cháu trên kia! Cái tàu này là tàu gì vậy?

Francois lấy tay khum vào miệng làm loa trả lời:

–         Đó là cái xác tàu. Trận bão hôm qua đã làm cho nó nổi từ dưới đáy biển lên đấy!

Claude cau mày, ra lệnh:

–         Thôi, không được nói thêm gì với họ nữa. Đây là cái xác tàu của mình. Mình không muốn cho người ta trèo lên lục lọi xác tàu của mình.

Francois im lặng, và, tuy tiếc không ở được thêm trên tàu, cả bốn đứa lần lượt trèo xuống ca-nô. Chúng ra sức chèo để có thể trở về càng nhanh càng tốt. Bởi giờ ăn trưa đã qua từ lâu, có thể chúng sẽ bị mắng… Có thể cậu Henri nghiêm khắc sẽ phạt chúng. Trong thâm tâm, chúng cũng không sợ bị phạt lắm. Bởi chúng đã được vào thám thính cái xác tàu và mang về được một cái hộp có thể chứa… ừ thì không phải rất nhiều thoi vàng, nhưng có thể chỉ một thoi thôi chăng?

Quả nhiên, khi trở về đến biệt thự Hải Âu, bọn trẻ bị mắng một trận nên thân. Và trong bữa ăn trưa, chúng chỉ được uống cà phê sữa, ăn bánh phết bơ, không được ăn mứt, bởi vì cậu Henri đã tuyên bố rằng những đứa trẻ về ăn trưa muộn đến thế chắc là không đói lắm. Bữa ăn trưa hơi buồn.

Trước khi về, Claude đã đem Dagobert gửi cho Jean Jack. Nói đúng ra, nó chỉ buộc con chó trong sân nhà cậu bé dân chài, còn chính Jean Jack thì chưa về. Chính mắt Claude đã trông thấy Jean Jack cùng với bố đứng trong thuyền gần cái xác tàu, đang nhìn như muốn nuốt lấy nó.

Trước khi ăn, bọn trẻ đã cẩn thận mang cái hộp quý giá vào cất dưới gầm giường, trong buồng bọn con trai.

Nếu Claude biết rằng ngay lúc đó, Jean Jack nói gì với bố nó, thì Claude sẽ làm gì? Cậu bé dân chài đó nói với bố rằng:

–         Con có một ý kiến hay lắm! Chúng ta sẽ kiếm tiền bằng cách chở những người đi nghỉ mát đến đây xem cái xác tàu. Bố thấy có được không?

Từ đó cho đến chiều, đã có hàng chục người đi cá thuyền đánh cá ra ngắm xác tàu. Khi Claude biết chuyện đó, nó nổi lên một cơn tức giận dữ dội. Nhưng chao ôi, biết làm thế nào được. Nói cho cùng, đúng như Francois góp ý với nó, làm thế nào để bắt người khác có mắt mà không được nhìn?

Chương 9 – Bí mật nằm trong cái hộp

Việc đầu tiên của bọn trẻ sau bữa ăn trưa là đi lấy cái hộp quý báu và mang ra tận cuối vườn, ở đó có một cái lều chứa dụng cụ làm vườn. Bọn chúng nóng lòng muốn bật khoá cái hộp. Tất cả đều quả quyết là cái hộp phải chứa một kho vàng.

Francois nhìn chung quanh, tìm một đồ dùng thích hợp. Nó tìm thấy một cái đục và cho rằng nhất định cái đục này sẽ được việc. Chao ôi! Chẳng được gì hết, cái đục còn trượt ra ngoài và đam cả vào tay đau điếng. Nó thử dùng một số dụng cụ khác, cũng chẳng ăn thua gì. Cả bốn anh em nhìn nhau chán ngán. Cuối cùng, Annie có ý kiến:

–         Em thấy làm như thế này. Chúng mình trèo lên gác và thả cho hộp rơi từ trên cao xuống, hộp sẽ vỡ tung ra. Em chắc là như vậy.

Francois gật đầu:

–         Ý kiến đó hay đấy! Thử xem sao. Chỉ có một điều là sợ những thứ đựng trong đó bị hỏng mà thôi.

Nhưng nghĩ mãi cũng chẳng có cách nào hơn. Francois mang hộp trèo lên tận buồng giáp mái nhô đầu ra cửa sổ. Ba đứa đứng dưới vườn, ngước lên chờ đợi. Francois lấy hết sức ném cái hộp từ trên xuống. Cái hộp rơi xuống hàng hiên đúng ngay cửa giữa, nghe “choang” một tiếng.

Cửa giữa mở ngay ra lập tức và cậu Henri lao ra như một viên đại bác. Cậu kêu lên:

–         Chúng bay đang làm gì vậy? Tao mong là chúng bay không ngu ngốc đến nỗi ném vào đầu nhau những đồ từ trên gác xuống chứ? Nhưng cái gì trên đất kia?

Bọn trẻ nhìn cái hộp. Lớp vỏ gỗ đã vỡ tan tành, để lộ ra một cái hộp bằng kim loại, có lẽ không thấm nước. Nếu trong hộp có gì, thì chắc không bị ảnh hưởng trong thời gian ngâm dưới nước. Mick chạy ra nhặt cái hộp lên.

Cậu Henri quát:

–         Tao hỏi là cái hộp gì ở dưới đất kia mà?

Mick đỏ bừng mặt, ấp úng:

–         Dạ, đây…đây là cái hộp của chúng cháu…

–         Đã vậy thì tao tịch thu. Tại sao tao đang làm việc mà chúng bay lại làm ầm ĩ lên như vậy? Đưa cái hộp ấy đây. Chúng bay lấy cái hộp này ở đâu?

Không ai trả lời. Cậu Henri lại càng cau mày thêm nữa, đến nỗi kính của cậu suýt rơi khỏi mắt. Cậu quắc mắt nhìn Annie đứng ngay cạnh:

–         Chúng bay lấy ở đâu? Nói!

Cô bé sợ chết khiếp, ấp úng:

–         Dạ, ở…ở trong cái xác tàu ạ…

Cậu Henri ngạc nhiên hết sức, nhắc lại:

–         Ở trong cái xác tàu! Các cháu muốn nói đến cái xác tàu bão làm nổi lên trên mặt biển hôm qua phỏng? Ù, cậu có nghe nói đến. Thế các cháu đã vào xem nó rồi à?

Mick thú thật:

–         Dạ, có đấy ạ.

Francois từ trên gác chạy vội xuống, đứng vào với các em. Việc cậu Henri can thiệp vào làm cho nó bàng hoàng. Nếu cậu tịch thu cái hộp đúng vào lúc bọn trẻ sắp mở được thì quả là một điều kinh khủng. Nhưng chao ôi! Cậu Henri có vẻ đã nói là làm, không tránh được. Cậu nói:

–         Cái hộp này có thể đựng những giấy tờ quan trọng.

Nói rồi, cậu cầm lấy cái hộp từ tay Mick và nói tiếp:

–         Các cháu không có quyền lục lọi trong cái xác tàu và lấy bất cứ cái gì trong đó.

Claude kêu lên, giọng thách thức:

–         Nhưng cái xác tàu đó là của con, chỉ của con thôi kia mà! Con xin bố, bố trả cho con cái hộp! Chúng con vừa mới tìm cách phá được cái vỏ hộp bên ngoài. Biết đâu trong hộp khi mở ra, chúng ta lại thấy có…một thỏi vàng chẳng hạn…hay là một kho vàng tương tự!

Ông Henri nhún vai:

–         Một thoi vàng ấy à? Thật là đồ trẻ con! Không bao giờ một cái hộp bé như thế này lại có thể chứa một thứ tương tự. Có thể con sẽ đọc được trong đó những điều có liên quan đến việc đã xảy ra cho những thoi vàng ngày xưa mà thôi. Theo ý bố, kho vàng ngày xưa chở trên cái tàu này đã được trao cho người chính thức được hưởng. Bao giờ bố cũng nghĩ rằng khi cái tàu đắm thì kho vàng đã được chuyển lên bờ rồi.

Claude lại van vỉ:

–         Bố ơi, con xin bố, bố trả cho chúng con cái hộp đi!

Trong giọng nói của Claude như có cả nước mắt. Cô bỗng cảm thấy rõ là trong hộp nhất định có các giấy tờ liên quan đến kho vàng. Nhưng ông Henri không nói thêm lời nào, quay gót trở vào trong nhà, nách cắp cái hộp quý.

Annie oà lên khóc:

–         Đừng mắng em vì em đã nói ra là cái hộp được tìm thấy trong cái xác tàu! Hãy tha lỗi cho em! Tại em sợ cậu Henri quá. Cậu hỏi, em không dám nói dối!

Francois vỗ vỗ vào vai em, an ủi:

–         Thôi, em bé, đừng có khóc nữa!

Francois đang tức ghê lắm, nó nghĩ rằng cậu Henri lấy cái hộp của chúng nó như thế là sai. Một lúc sau, nó mới nói:

–         Thôi nhé, nghe đây này. Chúng ta sẽ không chịu để cho sự việc diễn ra như vậy. Chúng ta phải tìm cách này hay cách khác lấy lại cái hộp và xem trong đó đựng cái gì. Mình chắc là cậu Henri nói thế thôi chứ cũng không chú ý lắm đến cái hộp đâu, Claude ạ. Có lẽ cậu lại tiếp tục viết sách và quên cái hộp đi rồi. Để khi nào có dịp, mình sẽ lẻn vào trong buồng giấy của cậu và sẽ lấy lại cái hộp. Nếu cậu bắt được mình thì đành chịu phạt thôi.

Claude tán thành:

–         Đồng ý! Chúng ta sẽ rình bố mình. Nhất định sẽ có lúc bố phải đi ra ngoài chứ!

Thế là chúng thay nhau rình cậu Henri. Nhưng cả buổi sáng, cậu không ra khỏi cửa. Mợ Cécile cuối cùng cũng thấy lạ vì cứ thấy trong bọn trẻ lúc nào cũng có một đứa, không đứa này thì đứa khác, lảng vảng trong vườn, trong khi những đứa kia chạy chơi dưới bãi biển. Mợ hỏi Mick, lúc đó đang đi trong vườn, dáng điệu nhàn nhã:

–         Tại sao các cháu không cùng chơi hay cùng đi tắm với nhau? Hay là các cháu lại cãi nhau rồi?

Mick không dám nói lý do ở trong vườn, chỉ chối đây đẩy:

–         Không ạ, làm gì có chuyện chúng cháu cãi nhau ạ?

Một lúc sau, khi Claude đến nhận phiên gác, Mick hỏi Claude:

–         Bố cậu không bao giờ đi đâu à? Cứ suốt đời ở trong phòng kín thế à?

Claude gật gù ra vẻ hiểu biết:

–         Các nhà bác học ai mà chẳng thế. Nhưng riêng bố mình, thì mình có thể nói với cậu một điều: thỉnh thoảng buổi trưa, bố mình có ngủ một lúc đấy.

Buổi trưa hôm đó, đến lượt Francois gác. Nó ngồi xuống một gốc cây và mở một cuốn sách ra. Một lúc sau, có một tiếng động lạ làm cho nó ngẩng đầu lên và lập tức nó hiểu ngay đó là cái gì.

–         Cậu Henri đang ngáy! Đúng rồi… đúng rồi… mình không nhầm mà! Không biết mình có thể lẻn vào trong phòng và lấy lại cái hộp của chúng mình không?

Nó rón rén đi đến cái cửa sổ lớn, mở hé ra và nhìn vào bên trong. Cậu Henri đang ngồi lọt thỏm trong một chiếc ghế bành lớn, mắt nhắm nghiền, miệng hơi hé mở. Cậu đang ngủ say. Mỗi khi cậu thở, lại ngáy một tiếng.

Francois nghĩ: “Có lẽ cậu ngủ say lắm rồi! Bây giờ là lúc hành động. Cái hộp kia rồi, để trên bàn, ngay sau lưng cậu. Thôi được, mình phải liều thôi; nếu cậu bắt được, nhất định sẽ bị phạt nặng, nhưng phải liều thôi!

Cậu bé lẻn vào trong phòng. Ông Henri vẫn ngáy đều. Francois rón rén đến gần cái bàn ngay bên cạnh ghế, thò tay ra và cầm lấy cái hộp…

Đúng lúc đó, một mảnh gỗ sót lại của cái vỏ hộp cũ, còn vướng vào một khe hộp sắt, rời ra và rơi xuống đất, nghe khô khốc. Ông Henri giật mình tỉnh giấc, mở mắt ra. Nhanh như chớp, Francois ngồi thụp ngay xuống đằng sau ghế của ông cậu, trống ngực đánh như trống làng.

Nhà bác học nửa tỉnh nửa mê khẽ hỏi:

–         Cái gì thế?

Francois vẫn im như thóc. Một vài giây đồng hồ trôi qua, dài như một thế kỷ. Rồi ông Henri lại ngồi như cũ, nhắm mắt lại và tiếp tục ngáy.

Francois nghĩ thầm trong bụng: “Thoát rồi!”

Nó thong thả đứng dậy, ôm chặt cái hộp vào ngực. Rất cẩn thận, nó chui qua cửa sổ ra ngoài vườn và cắm cổ chạy ra đến tận bãi biển. Claude, Annie và Mick đang nằm dài sưởi nắng, Francois kêu:

–         Thắng lợi! Thắng lợi! Đây rồi! Đây rồi!

Ba đứa trẻ vụt ngồi dậy, và mắt chúng sáng lên khi thấy cái hộp trong tay Francois. Francois ngồi xuống bên cạnh và cười vui vẻ, nói với Claude:

–         Bố cậu ngủ… Kìa, Dagobert, mày đừng kéo quần tao, tụt bây giờ… Mình đang nói gì nhỉ? Ờ phải, bố cậu đang ngủ, Claude ạ, và mình thừa dịp lẻn vào trong buồng giấy. Mà các cậu có biết đã xảy ra chuyện gì không? Cái hộp khỉ này chỉ còn một miếng gỗ dính vào, miếng đó bỗng rời ra, rơi xuống sàn kêu đánh cạch một cái và cậu Henri mở mắt ngay ra!

Claude hốt hoảng la lên:

–         Ôi trời đất ơi! Thế rồi làm sao?

–         Mình bèn nấp sau ghế của cậu và mình đợi cho cậu ngủ lại. Sau đó mình mới chuồn. Thôi bây giờ, chúng ta hãy xem trong hộp có cái gì. Mình cho rằng cậu Henri cũng chưa nhìn xem trong đó có cái gì đâu!

Francois nói đúng. Cái hộp – hình như bằng thiếc – vẫn còn nguyên vẹn. Ngâm lâu trong nước, nó hơi bị xỉn đi, nhưng nắp hộp đậy khít đến nỗi không thể mở được bằng tay không. Không ngần ngại, Claude rút con dao ra và dùng mũi dao cậy cái khe hộp nhỏ tí, gần như không trông thấy được. Dần dần, cái nắp hộp cũng chuyển và sau khoảng mười phút, nắp hộp bật ra.

Cả bọn háo hức lục xem trong hộp có gì. Có một số giấy tờ cũ, một quyển sách đóng bìa da đen… ngoài ra không có gì cả! Không có một thỏi vàng nào cả! Không có một kho của nào! Thật là thất vọng quá sức!

Francois nhận xét một cách ngạc nhiên:

–         Tất cả các vật này đều khô nguyên! Không có một vết bẩn nào! Cái hộp này bảo quản chúng giỏi thật đấy!

Cậu cầm quyển sách và mở ra, đọc vài dòng rồi reo lên:

–         Đây là quyển nhật ký của tàu! Trong quyển này, cụ tổ của cậu ghi lại hành trình của các cuộc đi. Đọc chữ của cụ khó không thể tả được! Cụ cứ ngoáy tít mù.

Claude cũng cầm lấy tờ giấy. Nói “tờ giấy” thực ra là không đúng, bởi đây là một mảnh da dày, đã vàng đi qua thời gian. Claude mở rộng trên mặt cât và chăm chú nghiên cứu. Trông như là một tấm bản đồ.

Francois nói:

–         Đây có lẽ là bản đồ hành trình của con tàu chăng?

Bỗng dưng, hai tay Claude đang cầm tờ giấy da run lên bần bật. Cô bé ngước lên nhìn các bạn bằng đôi mắt sáng như sao. Francois hỏi:

–         Gì vậy Claude? Cậu đã tìm ra cái gì rồi? Kìa, nói đi, sao cứ im như thóc vậy?

Claude lắc đầu, và bắt đầu nói một cách sôi nổi:

–         Francois! Cậu có biết cái gì đây không? Đây là tấm sơ đồ toà lâu đài của mình… sơ đồ của lâu đài Kernach khi nó chưa bị sụp đổ… Các cậu trông đây là chỗ các hầm “bỏ quên”. Và hãy nhìn đây… nhìn đây, có cái gì viết ở góc cái hầm giam này!

Ngón tay Claude run run chỉ một điểm trên tấm bản đồ kỳ lạ. Bọn trẻ cúi xuống để đọc cho rõ và có thể đọc được một chữ viết theo lối chữ cổ “THOI”.

Annie lẩm nhẩm:

–         Thoi? Thế nghĩa là thế nào? Đây là lần đầu tiên em nghe thấy chữ này.

Những chữ đó đối với mấy đứa kia lại không có gì là lạ. Mick reo lên, phấn khởi:

–         Thoi à? Như thế có nghĩa là những thoi vàng đấy chứ còn gì nữa!

Francois cũng nói thêm:

–         Tất nhiên, người ta có thể gọi là “thoi” bất cứ thanh kim loại nào. Nhưng trong trường hợp này, vì chúng ta biết là cái tàu cổ chở vàng và vàng đó đã bị mất tích, thì những thoi nói ở đây chỉ có thể là những thoi vàng. Trời ơi! Cứ nghĩ rằng kho vàng còn được cất giấu ở đâu đó trong các hầm của lâu đài Kernach! Ôi Claude! Claude ơi! Cậu có thấy hấp dẫn đến thế nào không?

Claude gật đầu, bản thân Claude cũng run lên vì xúc động:

–         Giá chúng mình tìm được kho vàng ấy nhỉ? Ôi! Giá chúng ta được cái may mắn đó!

Francois nói:

–         Cứ cho là chúng mình đạt được kết quả đó, thì cũng không phải dễ dàng đâu. Việc tìm kiếm sẽ rất khó khăn, vì bây giờ lâu đài đã bị đổ nát, gai góc và cỏ dại mọc đầy. Tuy nhiên, mình vẫn tin tưởng là nhất định chúng ta sẽ tìm ra các thoi vàng. Những thoi vàng! Nghe hay quá!

Nghe đến những thoi vàng, cả bọn trẻ đều tưởng tượng ra nhiều điều mới lạ. Có phải chỉ là “vàng” không đâu, mà là “những thoi vàng”! Chỉ có con Dagobert là không có phản ứng gì với vàng hoặc những thoi vàng, nó không hiểu làm sao bọn trẻ con lại có vẻ xúc động đến thế. Vừa rối rít ngoáy đuôi, nó vừa tìm cách liếm láp các cô cậu chủ, nhưng lạ thật, chẳng ai để ý đến nó cả. Sau một lúc như thế nó dỗi, bỏ ra xa bọn trẻ, ngồi quay lưng lại, hai tai cụp xuống.

Claude chợt trông thấy và đoán là nó đang dỗi. Cô bé kêu lên:

–         Trông Dagobert tội nghiệp chưa kìa! Nó không kiểu tại sao chúng ta cứ rối lên như thế. Nào Dago yêu quý! Mọi việc đều tốt đẹp cả, đừng có hiểu lầm là mày bị phạt hoặc chúng tao bỏ mày. Nhưng mà, mày biết không, chúng tao vừa khám phá ra điều bí mật tuyệt nhất thế giới.

Dago lại nhảy nhót, ngoáy đuôi tít mù vì thấy mình lại được âu yếm. Bỗng nó để chân lên cái bản đồ và bọn trẻ đồng thanh kêu lên sợ hãi:

–         Trời ơi! Con quỷ này, mày có bỏ chân ra không?

Francois nói:

–         Nếu mà nó xé mất cái bản đồ này thì không biết chúng ta sẽ làm thế nào? Bây giờ chúng ta làm gì cái hộp này nhỉ? Mình muốn nói rằng… cậu Henri thế nào cũng sẽ nhận ra là nó đã bị lấy đi, đúng không? Có lẽ bây giờ lại phải trả nó về chỗ cũ.

Mick trả lời:

–         Đồng ý, nhưng tôi đề nghị chúng ta giữ lại cái bản đồ. Cậu Henri chưa mở cái hộp này ra nên không biết trong đó có cái bản đồ này. Chúng ta để lại trong hộp những thứ khác, như các giấy tờ và quyển nhật ký của tàu. Những cái đó không có giá trị gì cả.

Francois nói:

–         Làm thế này hơn, chúng ta hãy chép lại bản đồ rồi bỏ bản chính trả lại vào hộp. Như vậy, chúng ta không làm gì sai trái đến bị mắng cả.

Tất cả tán thành ý kiến hay đó. Cả bọn quay về biệt thự Hải Âu sao lại tấm bản đồ. Việc này tiến hành trong lều để dụng cụ, không có ai nhìn thấy.

Bản đồ có ba phần, Francois giải thích:

–         Chỗ này là chỗ các hầm ngầm và hầm “bỏ quên” của lâu đài. Còn đây là bản đồ tầng một. Còn cái phần thứ ba này là bản đồ của phần trên lâu đài. Claude ạ, ngày xưa chắc lâu đài của cậu là một toà nhà đẹp lộng lẫy lắm. Tất cả phần chìm dưới đất của lâu đài là các hầm giam người. Nhưng không hiểu xuống đó bằng cách nào nhỉ?

Claude nói:

–         Rồi chúng ta phải nghiên cứu kỹ bản đồ này mới có thể hiểu được. Mới trông thì bản đồ có vẻ rối rắm, nhưng rồi sẽ rõ ràng cả thôi, khi chúng ta nghiên cứu nó tại chỗ, ở ngay tại lâu đài Kernach. Nhất định chúng ta sẽ biết người ta xuống hầm của lâu đài bằng cách nào. Trời ơi! Mình chắc không có đứa trẻ nào trên thế giới được dịp sống cuộc sống như chúng ta hiện nay!

Francois cất cẩn thận bản sao bản đồ vào trong túi quần đùi, nhất định cậu sẽ không bao giờ để mất! Một tấm bản đồ quý đến như thế! Sau khi để trả lại nguyên bản vào trong hộp, cậu nhìn về phía biệt thự và nói:

–         Bây giờ phải mang trả cái hộp chứ? Claude này, có lẽ bố cậu vẫn còn đang ngủ nhỉ?

–         Cứ thử xem sao!

Nhưng ông Henri đã thôi không ngủ nữa. Ông đang thức hẳn hoi! Nhưng may quá, ông đã hoàn toàn quên cái hộp. Đến bữa cơm chiều, khi ông đã cùng cả gia đình ngồi vào bàn ăn, thì Francois xin phép ra ngoài và chạy đi trả lại cái hộp vào chỗ cũ. Lúc ngồi vào bàn ăn nó nháy mắt với bọn trẻ, ra hiệu mọi việc đâu vào đấy. Cả bọn nhẹ người. Ông Henri có vẻ nghiêm khắc quá làm cho đứa nào cũng sợ xanh mắt. Annie không dám mở miệng, cô chỉ sợ lại lỡ mồm nói đến Dagobert hoặc đến cái hộp. Ba đứa kia thì trao đổi se sẽ với nhau vài câu. Trong lúc cả nhà đang ăn thì có tiếng chuông điện thoại réo. Mợ Cécile đứng dậy trả lời. Khi mợ trở lại, mợ nói với chồng:

–         Điện thoại gọi anh đó, anh Henri ạ. Hình như chuyện cái xác tàu làm mọi người xôn xao, không chỉ ở đây mà còn xa hơn nữa. Tin tức đi nhanh thật. Người gọi điện là một phóng viên của một tờ báo ở Paris. Anh ta muốn hỏi anh vài câu. Anh ta và một số bạn đồng nghiệp đã ra xem tại chỗ.

Cậu Henri bảo:

–         Em làm ơn nói lại với họ là anh sẽ tiếp họ vào lúc sáu giờ chiều.

Bọn trẻ hơi hoảng, đưa mắt nhìn nhau. Chúng hy vọng ông Henri không đưa cho các nhà báo xem cái hộp. Bởi vì như vậy thì sự bí mật về những thoi vàng chẳng mấy lúc sẽ lan ra.

Ngay sau bữa ăn, Francois kéo cả bọn ra ngoài:

–         May mà chúng ta đã nghĩ ra chuyện sao lại tấm bản đồ. Nhưng mình cũng tiếc là đã bỏ bản chính trả lại vào trong hộp. Bây giờ thì chẳng mấy chốc, bí mật về những thoi vàng cũng sẽ lộ ra!

Chương 10 – Một người khách hàng bí mật

Sáng hôm sau, các báo đều đăng tin về việc cái xác tàu bao nhiêu lâu nằm im dưới đáy biển, nay bỗng nổi lên một cách kỳ lạ. Các phóng viên cũng dễ dàng được ông Henri kể cho nghe chuyện cái tàu cổ và khối lượng vàng nó chở bị mất tích. Một vài người trong bọn họ còn tìm được cách thuê ca-nô đi ra đảo Kernach và chụp ảnh toà lâu đài cổ đổ nát.

Claude tức giận vô cùng. Trước mặt mẹ, cô nổi cơn thịnh nộ, làm ầm ĩ cả lên. Cô hét:

–         Đó là cái xác tàu của con! Lâu đài của con! Và cả hòn đảo cũng của con! Mẹ vẫn bảo là những cái đó của con cơ mà! Mẹ vẫn bảo thế cơ mà!

Mẹ trả lời:

–         Mẹ vẫn biết thế rồi, Claude yêu quý ạ! Nhưng con phải biết điều một chút chứ! Có ai vì ra đảo của con mà làm hỏng đảo đi đâu, hoặc nếu có chụp ảnh toà lâu đài thì cũng có làm nó đổ thêm đâu!

Claude vẫn nói:

–         Nhưng con không muốn cho ai bước chân lên đảo của con và lâu đài của con. Những chỗ ấy là của con, mẹ đã cho con rồi cơ mà!

–         Thì mẹ có biết đâu sẽ xảy ra chuyện như thế này. Thôi mà, biết điều một chút, Claude! Người ta ra xem cái xác tàu một tí thì có việc gì đến con! Vả lại con cấm họ thế nào được.

Đúng là Claude không cấm được người ta. Nhưng nghĩ như vậy đã không làm cho nó nguôi đi tí nào mà lại càng bực bội thêm.

Bọn trẻ cũng hơi ngạc nhiên về việc dư luận chú ý đến cái xác tàu nổi lên nhiều đến thế, đồng thời do đó mà lâu đài Kernach cũng trở thành quan trọng đối với mọi người. Nhiều người đang nghỉ mát ở các thành phố bên cạnh cũng cố tìm sang tận nơi để ngắm nó. Những người dân chài ở địa phương chẳng mấy lúc đã tìm ra bến cảng nhỏ cho phép cập bến vào đảo và hàng ngày chở đến hàng lô khách tham quan. Claude tức quá khóc hu hu và Francois tìm mọi cách dỗ dành cô bé:

–         Nghe anh này, Claude! Hiện nay chưa ai biết điều bí mật của chúng ta. Chúng ta sẽ đợi cho những chuyện sôi động này qua đi, rồi chúng ta sẽ đi đến lâu đài Kernach.

Claude lau nước mắt và trả lời:

–         Nếu không có ai tìm ra trước chúng ta thì mới đến phần chúng ta.

Claude rất ghét khóc, nhưng tức quá không nhịn được.

–         Ai mà tìm thấy được? – Francois khẳng định – Chỉ mới có chúng ta xem trong hộp có gì thôi chứ! Bây giờ mình sẽ thử tìm cách lấy lại cái bản đồ chính bằng da để trong cái hộp trước khi có một người khác cầm đến nó.

Cậu bé không còn dịp nào để thực hiện ý định đó, bởi vì đã xảy ra một sự kiện kinh khủng: cậu Henri bán cái hộp đó cho một người buôn đồ cổ!

Một hai ngày sau khi dư luận xôn xao về việc cái xác tàu nổi lên, cậu Henri ra khỏi phòng làm việc, mặt mũi tươi tỉnh và nói cho mợ Cécile và bọn trẻ biết việc mới thực hiện được. Cậu nói với mợ:

–         Anh vừa mới giải quyết xong một việc rất hay. Em có biết cái hộp cũ bọn trẻ lấy được trong cái xác tàu không? Thế này nhé, anh vừa tiếp một người chuyên buôn những của lạ như vậy và anh đã bán cho ông ta cái hộp đó, được giá lắm. Chính ông ta đề ra giá với mình đấy. Một số tiền mà mình cũng không ngờ được đến như vậy… Khi người buôn đồ cổ ấy thấy mảnh giấy da và quyển nhật ký hành trình để trong hộp, ông ta nhất định đòi mua nó ngay lập tức. Ông ta nói rằng cũng là vô tình đến xem mình có tìm thấy vài thứ bát đĩa cổ, hoặc vài thứ dụng cụ đi biển nào không, cho nên khi mình đưa cái hộp ra, ông ta có vẻ rất thích… bởi vì ông ta trả giá cao đến thế kia mà!

Bọn trẻ nhìn ông Henri hốt hoảng. Ông đã bán mất cái hộp quý rồi! Rồi sẽ có người nào đấy nghiên cứu bản đồ và có thể tìm ra điều bí mật! Bởi vì câu chuyện về số vàng bị mất tích đã đăng trên tất cả các báo. Chẳng cần phải giỏi giang gì lắm, chỉ cần để ý một tí là có thể hiểu cái bản đồ có ý nghĩa thế nào rồi.

Nhưng Claude và các bạn đã không dám nói cho ông Henri biết những chuyện đã khám phá ra. Ông Henri bây giờ đang tươi như hoa. Ông còn hứa sẽ mua cho bọn trẻ một cái ca-nô mới bằng gỗ tốt. Nhưng tính nết ông hay thay đổi đột ngột nên cũng chẳng có thể cho là ông đang vui vẻ mà nói hết được; nếu Francois thú thật đã lấy cái hộp và mở ra trong khi ông đang ngủ trưa thì có thể ông sẽ nổi lên một trận lôi đình ghê gớm.

Bọn trẻ đành im lặng nhưng khi chỉ có mấy đứa với nhau, chúng bàn tán về việc này rất sôi nổi. Tình hình trở nên nghiêm trọng. Cũng có lúc, chúng đã định nói điều bí mật này cho mợ Cécile biết. Nhưng lại nghĩ rằng đây là một điều bí mật kỳ diệu, sẽ mang đến những chuyện kỳ lạ nên cuối cùng chúng quyết định không nói với ai cả… Và sau hết, Francois kết luận:

–         Bây giờ thì nghe mình nói đây. Chúng ta sẽ xin phép mợ Cécile ra đảo ở chơi một hai ngày… Đúng thế, chúng ta sẽ cắm trại ở đó, như vậy, chúng ta sẽ có thì giờ đào nơi này, bới nơi khác để xem có tìm ra cái gì không. Bây giờ người ta đã xem xét ngoài đó chán rồi, chẳng mấy ai ra đó nữa. May ra chúng ta có thể tìm thấy kho vàng trước khi có người nào đó tìm ra điều bí mật. Vả lại, có thể cái ông buôn đồ cổ đã mua cái hộp cũng không đoán ra tấm bản đồ vẽ trên giấy da nghĩa là thế nào. Ở trên đó có ghi tên lâu đài Kernach đâu mà biết.

“Diễn văn” của Francois làm cho bọn trẻ yên lặng đôi chút. Trước đó, không biết phải làm gì, đứa nào cũng chán nản mệt mỏi, giờ đây đã quyết định phải hành động, đứa nào cũng thấy thanh thản trở lại.

Chúng bèn quyết định ngay ngày mai sẽ xin phép mợ Cécile ra ngoài đảo nghỉ hai ngày cuối tuần. Hiện nay trời đang rất đẹp, được cắm trại trên đảo thực không còn gì thú bằng. Chúng sẽ đem theo thật nhiều thức ăn.

Khi chúng đi tìm mợ Cécile để xin phép thì thấy cả cậu Henri cũng vẫn đang ở đó. Cậu vẫn có vẻ rất phấn khởi, thậm chí còn thân ái đập đập vào vai Francois. Cậu kêu lên vui vẻ:

–         Thế nào, các bạn trẻ? Các bạn cần cái gì đây? Tôi thấy các bạn có vẻ muốn xin xỏ cái gì thì phải?

Francois lễ phép trả lời:

–         Chúng cháu đến xin phép mợ Cécile… Thưa mợ Cécile, trời đẹp quá, mợ có vui lòng cho phép chúng cháu được ra lâu đài Kernach nghỉ ngơi trong mấy ngày cuối tuần này không ạ? Chúng cháu mà được cắm trại trên đảo một hai ngày thì vui lắm!

Mợ Cécile quay lại nhìn chồng:

–         Ừ, kể thì… Anh nghĩ thế nào, anh Henri?

Cậu Henri gật đầu:

–         Nếu chúng thích thì cho chúng đi. Sắp tới đây rồi sẽ không có dịp nào ra đó nữa đâu! Cậu phải nói cho các cháu biết rằng có người mới đặt vấn đề với cậu về việc mua lâu đài Kernach. Đã có người muốn mua rồi. Người đó có dự định không phải là xây dựng lại lâu đài Kernach mà biến nó thành một khách sạn, thành một nơi nghỉ mát dễ chịu. Các cháu thấy thế có tuyệt không?

Lúc đó, giá có sét đánh ngay vào đầu lũ trẻ cũng không làm chúng xúc động đến thế. Cả bốn đứa nhìn ông Henri bằng những cặp mắt vừa bực bội vừa kinh hoàng. Có người muốn mua hòn đảo ư? Như thế là điều bí mật đã bị khám phá rồi chăng? Cái người muốn mua toà lâu đài phải chăng đã đọc được tấm bản đồ và biết rằng có một kho vàng khổng lồ đang bị chôn vùi dưới đó? Bỗng nhiên, Claude gần như ngạt thở. Hai mắt nó bỗng long lên dữ dội:

–         Mẹ ơi, mẹ không thể bán hòn đảo của con được! Mẹ không thể bán lâu đài của con được! Con không cho phép như thế!

Ông Henri cau mày, nói nghiêm khắc:

–         Claudine, không được ngốc nghếch như vậy! Tất cả những cái đó có phải thật là của con đâu! Con còn lạ gì nữa! Hòn đảo và toà lâu đài là tài sản của mẹ con, và nếu mẹ con muốn bán thì bán đi chứ sao. Nhà ta có giàu đâu và bán được một món tiền lớn là rất hay. Khi đã bán được đảo, bố sẽ có điều kiện để mua cho hai mẹ con những thứ chúng ta thích.

Claude kêu lên, đau khổ:

–         Con chẳng thích cái gì hết! Đảo của con và lâu đài của con là những thứ quý nhất mà con có! Ôi, mẹ ơi… mẹ đã nói với con rằng… những cái đó đã thuộc về con. Mẹ đã nói thế rồi cơ mà!

Bà Cécile có vẻ rất bối rối:

–         Claude ạ, mẹ nói cho con hòn đảo và toà lâu đài để cho con ra đấy chơi, và lúc đó, mẹ nghĩ rằng cả đảo lẫn lâu đài chẳng có giá trị gì cả. Nhưng hiện nay, tình thế đã khác trước rồi. Bố con vừa được người ta hỏi mua các thứ đó với một giá rất hời, gấp hàng nghìn lần điều mà chúng ta có thể mơ ước, cho nên ta không thể từ chối được.

Claude lại kêu lên, mặt tái ngắt:

–         A, thế ra mẹ cho con hòn đảo vì mẹ nghĩ rằng nó chẳng đáng giá gì cả, và bây giờ mẹ lại lấy lại của con. Chơi… chơi thế không ngon chút nào hết!

Ông Henri cáu kỉnh ngắt lời:

–         Đủ rồi đó, Claudine! Mẹ chỉ biết nghe lời bố thôi. Còn con, con chỉ là một đứa trẻ. Mẹ con cho con hòn đảo và toà lâu đài là vì muốn con vui. Còn bây giờ con phải hiểu rằng có bán đi thì mới có thể mua cho con những thứ con cần mà xưa nay chưa có.

Claude trả lời, giọng khàn đặc:

–         Con không cần một xu nào của cái tiền ấy!

Nói rồi, cô bé quay lưng lại và ra khỏi phòng, bước chân lảo đảo. Mấy đứa trẻ kia rất buồn, chúng rất thông cảm với Claude. Cô bé khổ sở quá! Nhưng Francois nghĩ rằng Claude không hiểu tâm lý người lớn. Cậu Henri và mợ Cécile muốn làm thế nào chẳng được, nếu hai người muốn bán đảo và toà lâu đài thì ai mà ngăn được? Chỉ có điều, cậu Henri không biết cái điều quan trọng nhất: có thể dưới hầm của toà lâu đài có chứa một tài sản vô giá!

Francois trầm ngâm nhìn cậu Henri và suy nghĩ không biết có nên nói cho cậu biết điều đó không. Nhưng nghĩ kỹ, nó quyết định không nói. Có thể còn một hy vọng là bọn trẻ sẽ tìm ra kho vàng trước mọi người.

Francois hỏi:

–         Thưa cậu, bao giờ cậu định bán hòn đảo ạ?

Ông Henri trả lời:

–         Những thủ tục giấy tờ sẽ làm xong và ký trong vòng một tuần lễ nữa. Vì vậy, nếu các cháu muốn ra ngoài đó chơi một hai ngày thì ra ngay đi. Sau này, chưa chắc người chủ mới sẽ cho phép các cháu được lên đất của ông ta mà cắm trại đâu.

Francois lại hỏi:

–         Thưa cậu, người định mua hòn đảo có phải chính là cái ông buôn đồ cổ đã mua của cậu cái hộp sắt không?

–         Đúng đó, và cậu cũng hơi lấy làm lạ, vì cậu tưởng ông ta chỉ chú ý đến những đồ vật cổ thôi, cho nên cậu ngạc nhiên thấy ông ta lại còn định mua hòn đảo để biến toà lâu đài thành khách sạn. Tuy vậy, cậu cũng cho rằng xây một khách sạn ở ngoài đó cũng là một ý hay đấy! Khung cảnh ngoài đó cũng thơ mộng, và chỗ ấy có thể được khách du lịch thích đó. Cậu thì không phải là một nhà kinh doanh, nên cậu không thể hình dung được mình sẽ xây cái gì trên đảo cả, nhưng người mua đảo thì họ biết là nên làm gì.

Francois thở dài:

–         Rõ là ông ta biết quá còn gì! – Cậu bé cùng Annie và Mick ra khỏi phòng – Lão ấy chắc đã đọc được bản đồ… và hắn cũng đã đi đến kết luận giống như mình. Như vậy là nhất định có rất nhiều thoi vàng được cất giấu trên đảo. Lão kia cũng định tìm cách đoạt lấy chúng, còn ý định xây dựng một khách sạn trên đó chẳng qua chỉ là lí do thôi. Lão chỉ chạy theo kho vàng mà thôi. Mình chắc là hắn đã trả cho cậu Henri một món tiền so với kho vàng chẳng thấm vào đâu, nhưng cậu Henri thật thà của mình thì cho đó là một món tiền khổng lồ! Trời ơi! Câu chuyện rắc rối quá!

Francois chạy đi tìm Claude và thấy cô bé ở trong lều đựng dụng cụ. Cô bé mặt tái xanh và nói là hình như cô ốm. Francois an ủi em:

–         Chỉ tại những chuyện vừa rồi làm cho cậu mệt mỏi đấy mà!

Francois quàng tay vào vai Claude và lần này, Claude không hất tay nó ra. Sự an ủi của Francois làm cho em dịu lại. Những giọt nước mắt trào ra trên mặt Claude, cô bực tức gạt đi. Francois nói:

–         Nghe mình này, Claude. Không nên vội hết hy vọng. Ngày mai chúng ta sẽ ra đảo và chúng ta sẽ tìm mọi cách xuống được những hầm “bỏ quên” và tìm ra các khối vàng. Chúng ta sẽ ở đấy cho đến khi nào xong việc mới thôi. Được không? Còn bây giờ thì hãy bình tĩnh lại. Chúng mình rất cần cậu phải sáng suốt để lập cho xong chương trình của ngày mai. May làm sao chúng ta lại nghĩ ra chuyện phải sao chép tấm bản đồ!

Claude đã bình tĩnh chút ít. Ý nghĩ ra đảo cắm trại vài hôm với các anh chị và con Dagobert làm cho cô quên đi một phần câu chuyện không hay mà cha mẹ cô đã vô tình gây ra. Tuy nhiên cô vẫn thở dài:

–         Mình vẫn nghĩ là bố mẹ mình đối với mình không tốt!

Francois nói:

–         Nếu cậu nghĩ kỹ thì không phải như thế đâu! Nói cho cùng thì bố mẹ cậu cần tiền và, dưới con mắt của cậu mợ, hòn đảo và toà lâu đài chẳng có giá trị gì cả, bây giờ có người trả giá hời mà không bán đi thì có hoạ là điên! Vả lại, cậu hãy nhớ lại lời bố cậu nói mà xem, bố cậu có hẹn sẽ cho cậu cái gì cậu thích. Mình mà ở địa vị cậu thì mình biết là sẽ nên xin cái gì.

Claude tò mò hỏi:

–         Thế xin cái gì?

–         Xin con Dagobert, chứ còn cái gì nữa!

Điều đó làm Claude phải bật cười và chỉ mấy phút sau, nó đã quên hết mọi ưu phiền.

Chương 11 – Bắt đầu đào bới

Claude và Francois đi tìm Mick và Annie. Hai đứa bé đang đợi ở trong vườn, đứa nào cũng có vẻ rất lo lắng về chuyện mới xảy ra. Thấy Claude và Francois chạy lại, hai đứa đều có vẻ vui mừng, Annie cầm lấy hai tay Claude:

–         Claude ơi, cậu có biết mình buồn về những dự định của cậu Henri đến thế nào không?

Mick cũng nói:

–         Mình cũng vậy. Cậu thật là không may, cô bé… à quên, không, mình định nói cậu bé tội nghiệp ạ.

Claude cố gắng mỉm cười và nói, có vẻ hơi xấu hổ:

–         Vừa rồi, mình đã xử sự như một đứa con gái, nhưng tại vì mình bị kích động ghê quá.

Francois nói cho hai em biết những dự định mà cậu ta và Claude vừa bàn tính lúc nãy. Cậu kết luận:

–         Vậy là ngày mai chúng ta sẽ ra đảo Kernach. Trước hết, chúng ta phải lập danh mục các đồ vật cần thiết phải mang theo. Nào bắt đầu ngay đi.

Cậu rút trong túi ra một cái bút chì và một tờ giấy. Mick nói:

–         Em đề nghị trước hết phải ghi những thức ăn. Phải mang theo nhiều thức ăn, vì nhất định chúng ta sẽ chóng đói đấy.

Claude nói:

–         Phải nghĩ trước cả đến nước uống, bởi vì trên đảo không có nước uống. Ngày xưa, mình có nghe nói trên đảo có một cái giếng rất sâu, sâu mãi xuống quá mặt nước biển nhiều, và cung cấp nước ngọt cho đảo. Nhưng mình đã để ý tìm nhiều lần mà không thấy dấu vết đâu cả.

Francois ghi: Thức ăn, nước uống…

Cậu ta lại nhìn mọi người xem có ai thêm gì không. Không thấy ai nói gì, cậu vừa ghi vừa đọc: Xẻng, cuốc…

Annie ngạc nhiên:

–         Xẻng cuốc à? Để làm gì?

–         Để đào bới tìm đường đi xuống các hầm “bỏ quên”.

Mick gợi ý:

–         Mang cả dây thừng nữa, có thể dùng đến…

Claude thêm:

–         Và mấy cái đèn pin. Trong các hầm chắc tối lắm.

Annie nghĩ đến chuyện xuống hầm tối đã rùng mình. Cả đời nó chưa bao giờ được thấy một cái hầm “bỏ quên”, nên chỉ riêng cái tên ấy cũng đã chứa đựng bao điều bí mật rùng rợn.

Mick lại nói:

–         Phải mang chăn nữa. Đêm nằm trong gian phòng của lâu đài chắc là lạnh lắm.

–         Chúng ta cần mang theo một số bát đĩa, nhất là cốc uống nước. Và mang đi một số đồ dùng để đục, cậy… có thể phải cần đến.

Sau nửa giờ, bọn chúng đã ghi được một danh mục khá dài và ai cũng hoan hỉ nghĩ đến việc đi cắm trại trên đảo. Claude đã bắt đầu quên nỗi giận dữ và sự thất vọng của mình. Sự có mặt của các anh chị khiến cô bình tĩnh lại. Đứa nào cũng điềm đạm, biết điều, lạc quan, sự vui vẻ của chúng đã lây cả sang Claude. Claude nhìn Francois đang cắm cúi đọc lại bản danh mục và thầm nghĩ:

“Nếu mình có thêm mấy anh chị em thì có lẽ sẽ đáng yêu hơn. Mình có chuyện gì mà được kể lại với người khác thì cũng thấy vui. Lúc đó những chuyện buồn phiền sẽ trở nên nhẹ nhõm hơn, dễ chịu hơn. Mình yêu ba anh chị của mình quá. Đúng rồi, mình yêu, bởi vì anh chị nào cũng đáng yêu, luôn cười nói, lúc nào cũng vui vẻ. Mình muốn giống các anh chị ấy. Mình thì lúc nào cũng cắm cảu, ít cười, hay nổi cáu, giận dữ. Chẳng thế, bố cứ mắng mình suốt. Mẹ thì thật đáng yêu, nhưng bây giờ mình mới hiểu tại sao mẹ cứ bảo mình khó tính. So với các anh chị, mình thật khác biết bao! Họ dễ chan hoà với mọi người và ai cũng yêu họ. May quá, họ đến chơi với mình và đang làm cho cái con bé man rợ là mình đây thay đổi đấy!”

Đó là những suy nghĩ nghiêm túc, cho nên Claude có một thái độ nghiêm trang khác thường. Francois ngửng đầu lên và thấy đôi mắt xanh của Claude đang chăm chú nhìn mình, cậu bèn mỉm cười:

–         Mình thật muốn biết cậu đang suy nghĩ gì?

Claude đỏ mặt:

–         Không có cái gì đáng kể đâu! Mình chỉ đang nghĩ rằng cả ba cậu thật là đáng yêu và mình rất muốn được giống các cậu.

Francois ngạc nhiên:

–         Nhưng mà chính cậu cũng rất đáng yêu kia mà!

Nghe Francois khen mình, Claude lại càng đỏ mặt. Nó đột ngột nói:

–         Thôi chúng ta đi tìm Dagobert rồi cùng đi chơi đi! Chắc nó đang không biết có việc gì xảy ra mà không đến đón nó đây.

Cả bọn cùng đi; Dagobert đón chúng, sủa ầm ĩ. Mọi người nói cho nó biết dự định của ngày mai, và con vật thông minh ngoáy đuôi tít mù, hình như cũng hiểu những lời người ta nói với nó. Annie cho là mình cần phải giải thích thêm:

–         Nó rất vui vì chúng ta sẽ cho nó cùng đi đấy.

Sáng hôm sau, bọn trẻ đã sốt ruột đến tột độ. Cả bọn hối hả vác xuống ca-nô tất cả các thứ chúng đã chuẩn bị từ hôm trước. Những gói, buộc được để vào góc ca-nô. Cứ vác xuống đến đâu, Francois lại lấy bút chì chấm vào danh mục thứ đó để đánh dấu. Làm như vậy sẽ không quên thứ gì cả.

Năm người bạn (kể cả chó) đã đi xa bờ được một quãng thì Mick chợt hỏi:

–         Anh có nhớ mang theo cái bản đồ đó không?

Francois gật đầu:

–         Tất nhiên là có chứ! Sáng nay anh vừa thay quần soóc mới sạch, và anh đã lấy cái bản đồ từ trong túi quần cũ cho sang túi quần sạch. Đây, nó đây này!

Cậu ta đưa cho em xem tờ giấy, nhưng đúng vào lúc đó, một làn gió mạnh thổi đến và giật tờ giấy khỏi tay Francois. Tờ giấy rơi xuống nước. Cả bốn đứa kêu lên sợ hãi. Thôi thế là mất cái bản đồ quý giá rồi.

Claude vừa quay mũi thuyền vừa nói:

–         Nhanh lên, bơi theo lấy lại!

Nhưng đã có kẻ nhanh hơn nó. Dagobert đã trông thấy tờ giấy tuột khỏi tay Francois, đã nghe thấy những tiếng kêu hốt hoảng. Nó nhảy tùm xuống biển và bơi theo tờ giấy. Nó bơi rất khá, vì rất khoẻ. Chỉ một thoáng, nó đã ngậm được tờ giấy trong mõm rồi bơi trở về thuyền. Các cô cậu chủ mãi vẫn chưa hết bàng hoàng về trí thông minh và tài lanh lẹn của nó.

Hai cậu con trai bế nó lên thuyền, còn Claude thì gỡ mảnh giấy ra khỏi mõm nó. Trên tờ giấy chỉ thấy lờ mờ mấy vết răng.

–         Hoan hô Dago! Mày lại còn tỏ ra cẩn thận nữa kia đấy!

Dù sau, thì cái bản đồ cũng thấm nước ướt đẫm và bọn trẻ lo lắng nhìn xem nó có bị nước biển làm hỏng không. May sao, khi vẽ lại, Francois đã ấn mạnh ngòi chì, nên từng nét của bản đồ vẫn còn rất rõ ràng.

Francois trải bản đồ ra nắng và bảo Mick ngồi canh cho nó khô:

–         Không được để cho nó bay một lần nữa đấy! Thật hú vía!

Claude lại cầm lấy bơi chèo và hướng thuyền về hòn đảo. Dagobert sau khi được mọi người khen ngợi, lại được thưởng mấy cái bánh quy, nó vừa nhai vừa tỏ vẻ rất sung sướng. Xong rồi, ngồi xổm trên thuyền, nó rũ bộ lông ướt đẫm làm cho mọi người ướt sạch.

Claude vẫn khéo léo cho thuyền lách qua những mỏm đá ngầm bao quanh đảo. Mấy đứa kia lại có dịp khen ngợi khi cô bé tài tình đưa thuyền lướt qua các mỏm đá nhọn mà thuyền không hề quệt phải một mỏm đá nào. Bọn chúng thấy Claude có vẻ là một thuỷ thủ thực sự có tài.

Bây giờ, con thuyền đang trôi trên mặt nước phẳng lặng trong cái bến cảng thiên nhiên nhỏ xíu. Một lúc sau, thuyền cập bến. Cả bọn nhảy lên cát, kéo thuyền lên rõ cao để tránh sóng, rồi bắt đầu dỡ các thứ trong thuyền.

Francois nói:

–         Bây giờ chúng ta phải đưa hết các thứ này vào trong gian phòng của lâu đài, để nếu có mưa cũng không bị ướt. Mình mong là trong khi chúng ta ở trên đảo, không có ai đến đảo cả.

Claude nói:

–         Làm gì có ai đến. Bố mình chẳng nói là mãi tuần sau mới ký các văn bản bán đảo kia mà. Người mua mà chưa mua xong thì không có quyền đến chiếm đảo. Chúng mình còn một số ngày nữa để mà tìm.

Francois đã nghĩ đến chuyện phải đặt người gác, đề phòng có ai đến thì báo động, nghe thế liền nói:

–         Vậy thì không cần đặt người gác nữa. Nào chúng ta ra cả đây. Cầm lấy mấy cái cuốc, Mick. Tôi sẽ mang thức ăn và các đồ uống. Claude giúp mình. Còn Annie, em mang mấy cái gói nhỏ kia.

Các thức ăn uống được đóng trong một cái hòm to tướng, vì bọn trẻ sợ bị đói trong khi ở trên đảo. Bọn chúng theo những ổ bánh mì lớn, bơ, bánh quy, mứt, những hộp nước quả, mận chín, một số chai bia, bột cà phê, một cái xoong và một bi đông nước, tóm lại, tất cả những gì cần thiết.

Claude và Francois lặc lè khiêng cái hòm lên dốc lâu đài. Hai đứa phải nghỉ lấy hơi mấy lần mới lên được đến gian phòng lát gạch độc nhất còn có thể ở được của lâu đài. Sau khi xếp cái hòm vào sát tường, hai anh em lại trở lại ca-nô lấy nốt mấy cái chăn.

Sau khi sắp xếp xong, gian phòng cổ kính trông đã có vẻ vui vui. Bọn trẻ quyết định ngủ ở đó, và trải những đệm ngủ vào trong góc. Francois nói:

–         Hai cô gái ngủ với nhau trên đống chăn này, còn bọn con trai chúng mình ngủ ở đống này.

Claude không đồng ý, nó không muốn ngủ với Annie, vì như vậy là bị xếp vào loại con gái. Nhưng Annie nhất định không chịu ngủ một mình, và nhìn Claude với một vẻ van vỉ đến nỗi Claude mỉm cười và thôi không phản đối nữa.

Cô bé Annie nghĩ bụng:

–         Đúng là Claude ngày càng trở nên đáng yêu, mình yêu nó ghê lắm.

Francois ngồi lên trên đống chăn và lấy tấm bản đồ từ trong túi ra:

–         Nào bây giờ chúng ta bàn việc. Chúng ta sẽ nghiên cứu tấm bản đồ này thật cẩn thận và tìm cách phát hiện cho ra chỗ xuống những hầm dưới đất. Hãy đến tất cả đây, ngồi cạnh mình và cùng bắt đầu làm việc. Hãy bắt chất xám làm việc và phải chiến thắng kẻ đang có âm mưu chiếm đảo của chúng mình!

Bốn cái đầu cúi trên tấm bản đồ đã khô hẳn. Bọn trẻ tập trung hết sức nghiên cứu nó. Xem trên bản đồ thì ngày xưa lâu đài Kernach là một lâu đài rất đẹp.

Francois chỉ tay lên phần vẽ sơ đồ các hầm “bỏ quên”:

–         Xem đây này! Phần ngầm dưới đất hình như chạy khắp cả mặt bằng lâu đài, và đây, đây nữa, trông những đường thẳng song song kia như có vẻ là những bậc thang.

Claude nói:

–         Đúng rồi, có lẽ cậu nói đúng. Vậy thì, nếu đúng là các bậc thang thì nhất định phải có hai lối vào hầm ngầm. Một cầu thang hình như đi từ một nơi có thể là căn phòng chúng ta đang ngồi đây. Còn cửa kia, có thể là ở dưới cái tháp chúng ta trông thấy đằng kia… Nhưng mà Francois này, cậu có biết cái vòng tròn bé tí này là cái gì không?

Ngón tay Claude chỉ vào một cái vòng tròn nhỏ, cái vòng này vẽ cả ở trên phần sơ đồ hầm ngầm, lại vẽ cả ở trên phần mặt sàn lâu đài.

–         Mình cũng không hiểu đó là cái gì! – Francois trả lời, có vẻ suy nghĩ rất nhiều. Bỗng nó kêu lên: – Mà đúng rồi, mình biết nó là cái gì rồi! Có phải hôm qua cậu nói là ở gần đây trước kia có một cái giếng, phải không nào? Vậy thì cái vòng tròn này là vẽ chỗ cái giếng ấy đấy. Giếng này phải rất sâu mới đến được lớp nước ngọt ở dưới đáy biển. Vì vậy, nó phải đi qua phần hầm ngầm. Các cậu thấy có lạ không?

Mỗi lúc, bọn trẻ lại càng thấy hào hứng thêm lên. Chúng có cảm tưởng đang bước vào một cuộc phiêu lưu kỳ lạ. Như thể là chúng đã có một dấu hiệu rất quý. Có một cái gì đấy cần phải khám phá ra, một cái gì có thể và cần phải khám phá ra trong vòng một hai ngày tới. Bỗng dưng chúng thấy tự tin lạ thường.

Mick hỏi:

–         Vậy thì thế nào? Chúng ta bắt đầu từ đâu? Có lẽ là phải tìm lối vào hầm ngầm ngay ở trong phòng chúng ta đang ngồi đây chăng? Theo mình, đó chắc phải là một hòn đá vuông lớn; chỉ cần nhắc hòn đá ấy lên, là chúng ta sẽ làm lộ ra cửa vào các hầm “bỏ quên”.

Nghĩ thế, mọi người đã thấy hào hứng hẳn lên. Francois gập cẩn thận tấm bản đồ và bỏ vào trong túi, sau đó đưa mắt nhìn quanh. Nền sàn lát gạch của gian phòng bị cỏ dại mọc trùm lên hết cả. Bây giờ phải nhổ hết cỏ đi, mới có thể xác định được trong đám những viên gạch lát sàn kia, viên nào có khả năng di động được.

Francois cầm lấy một cái cuốc:

–         Chúng ta bắt đầu vào việc ngay đi nào. Cuốc cho hết đám cỏ dại bò lan đi. Đây này, cứ làm như thế này này… rồi chúng ta sẽ kiểm tra từng hòn gạch một.

Claude, Mick và Annie mỗi đứa cầm lấy một cái cuốc và trong phòng vang lên những tiếng cuốc cạo lên gạch sồn sột để bứt cỏ. Cỏ cũng dễ nhổ, và bọn trẻ làm hết sức mình, nên công việc cũng chạy.

Có lẽ do bị ảnh hưởng không khí chung, nên Dagobert cũng tỏ ra hăng hái đặc biệt. Tất nhiên, nó không hiểu tại sao các cô cậu chủ lại bận rộn như vậy. Nhưng nó cũng tham gia tích cực vào việc đào bới. Nó lấy chân hết sức bới, đất và cỏ dại bay tung toé khắp nơi.

Francois bị một hòn đất bắn vào đầu, kêu lên:

–         Dừng lại, Dago, dừng lại! Gớm, mày làm gì mà như giông bão thế? Khéo mà chỉ một lúc nữa, mày sẽ làm cho những viên gạch này bay vào không trung mất thôi! Claude, cậu có thấy là con Dago cũng cùng làm với chúng mình không? Lúc nào nó cũng tìm cách giúp đỡ chúng mình.

Bọn trẻ lại tiếp tục làm một cách say sưa, chúng rất nóng lòng tìm ra cửa vào hầm ngầm. Nếu tìm thấy thật thì hồi hộp biết bao. Bởi vì lúc đó cuộc phiêu lưu sẽ thực sự bắt đầu!

Chương 12 – Những khám phá hấp dẫn

Một lúc sau, nền gian phòng nhỏ đã sạch đất cát và cỏ dại. Mặt nền lộ ra, lát bằng những tấm đá lớn vuông vức. Bọn trẻ đốt đuốc lên xem kỹ từng viên, tìm xem có viên nào có thể xê dịch được. Francois tuyên bố:

–         Viên gạch mà chúng mình tìm phải là viên ở giữa có một cái vòng sắt, thì mới nhấc lên được.

Nhưng chúng chẳng thấy viên nào như thế cả. Viên nào cũng giống viên nào. Thật là thất vọng quá sức!

Francois bèn nghĩ cách lách mũi cuốc vào các khe giữa các viên gạch, vừa lách vừa bẩy. Không một viên nào động đậy, viên nào cũng như đã gắn chặt vào đất từ bao giờ. Sau ba giờ làm việc liên tiếp, bọn trẻ quyết định nghỉ ngơi lấy lại sức.

Đứa nào cũng đói ngấu, và chỉ nghĩ đến những món ăn ngon lành chúng mang theo cũng đã đủ thấy thích. Vừa ăn, chúng vừa bàn đến chuyện đang làm. Francois nói:

–         Xem ra thì cửa vào hầm ngầm không phải đi từ gian phòng này đâu. Kể ra thì cũng hơi buồn vì mất công thật đấy, nhưng cũng chẳng có gì đáng phải lấy làm lạ. Chúng ta sẽ đo trên bản đồ để xem có thể ước được chỗ nào là chỗ có cầu thang đi xuống các hầm “bỏ quên”. Cố nhiên cũng có thể chưa hẳn đã chính xác, và trong trường hợp ấy, căn cứ vào bản đồ thì chẳng ích lợi gì. Nhưng dù sao cũng phải thử xem sao.

Chúng tìm cách đo đạc, nhưng chẳng có kết quả gì. Bởi ba phần của bản đồ lại không cùng vẽ theo một tỷ lệ. Francois hơi nản, khẽ thở dài. Cuộc tìm kiếm có vẻ vô vọng… Nếu không tìm thấy dấu vết gì thêm, thì phải thử lòng đất của khắp nền gian phòng. Làm như vậy sao nổi, bởi mất nhiều thì giờ quá.

Claude bỗng kêu lên, tay chỉ vào cái vòng tròn nhỏ tượng trưng cho cái giếng trong bản đồ:

–         Nhìn xem này! Cửa xuống hầm có vẻ gần ngay cái giếng. Nếu tìm được giếng, chúng ta sẽ đào khắp xung quanh để tìm cho ra những bậc thang. Cái giếng được vẽ trên bản đồ ở cả hai phần. Hình như nó ở giữa lâu đài.

Francois hoan hỉ tán thành:

–         Cậu nói rất có lý, ý đó hay thật. Vậy chúng ta hãy cố gắng tìm xem tâm của lâu đài là ở đâu. Theo mình, nó cũng là tâm của cái sân, nó ở ngoài kia.

Bọn trẻ ra bên ngoài, dưới ánh mặt trời. Chúng thấy rõ việc chúng làm là rất quan trọng, nên chúng có vẻ nghiêm trang. Lao mình vào một cuộc chạy đua đi tìm vàng thế này, chẳng phải là rất hấp dẫn sao? Bây giờ, chúng hoàn toàn tin rằng ở dưới chân chúng, khối vàng mất tích được chôn giấu đâu đây. Nếu có ai bảo chúng rằng làm gì có các thoi vàng, nhất định chúng không chịu tin.

Chúng dừng lại giữa sân, chỗ này ngày xưa cũng là tâm của toà lâu đài cổ. Nhưng nhìn khắp xung quanh, chúng vẫn không thể nào tìm được một dấu vết để khám phá ra chỗ của cái giếng xưa. Ở đây, thiên nhiên cũng lại đã xâm chiếm tất cả. Cát theo gió bay từ bãi biển vào, cỏ và gai mọc trên cát dày không thể tưởng tượng nổi. Những viên gạch phẳng ngày xưa lát đầy sân rộng, nay đã vỡ hầu hết, trông không viên nào giống viên nào. Rêu, cát và cỏ dại đủ loại trùm lên khắp mặt sân.

Bỗng Mick kêu lên:

–         Kìa, một con thỏ.

Quả thật, một “cục bông” màu be đang đi qua sân, không chút vội vã. Con vật bỗng biến mất vào một cái lỗ, rồi một con khác xuất hiện, ngồi trên hai chân sau, nhìn bọn trẻ một cách nghiêm trang và cũng lại biến mất. Ba anh em Francois ngạc nhiên vô cùng, chưa bao giờ chúng được thấy thỏ hoang quen người như vậy.

Con vật thứ ba xuất hiện. Một chú thỏ con nhỏ xíu nhưng có đôi tai to tướng, trông rất ngộ nghĩnh, lại có một túm đuôi bé tí trắng xoá. Nó có vẻ không nhận thấy có bọn trẻ ở đó. Nó nhảy nhót làm cho bọn trẻ rất thích thú, sau đó nó ngồi lên hai chân sau, đưa chân trước ngoáy tai.

Thật là khiêu khích con Dagobert quá sức. Nó đã cố hết sức nhịn thèm: khi hai con thỏ đầu tiên xuất hiện, nó chỉ sủa lên vài tiếng. Nhưng cái con thỏ ranh kia, dám ngồi trước mặt nó ngoáy tai ngoáy mũi, không thèm để ý gì đến nó, quả thật là khiêu khích đến mức không một con chó nào chịu nổi. Dago, không đôi hồi gì cả, sủa lên một tiếng “oa” dữ dội và nhảy xổ đến vồ lấy con thỏ.

Trong một giây ngắn ngủi, con vật bé nhỏ dường như đứng ngây ra tại chỗ. Từ trước tới nay, chưa ai làm cho nó sợ hoặc săn đuổi nó, nên nó mở to mắt nhìn con quái vật to lớn đang nhảy bổ vào nó. Bỗng dưng hiểu ra sự nguy hiểm, nó vội chạy đi, cái đuôi ngắn ngủn dựng đứng như một dấu hiệu kêu cứu và biến mất trong một bụi rậm, ngay cạnh bọn trẻ. Dagobert chạy theo nó và cũng mất hút.

Một trận pháo hoa cát và bụi đất toé lên trong không khí: Dagobert cố hết sức moi cho rộng ra cái lỗ con thỏ vừa chui vào. Nó dùng móng chân bới đất nhanh như chớp. Vừa bới vừa rên rỉ và sủa luôn miệng, không thèm để ý nghe Claude đang gọi nó nữa. Nó muốn bắt con thỏ bằng được. Càng thấy cái lỗ rộng ra dưới chân, nó càng đào khoẻ hơn.

Claude kêu:

–         Dago! Dago! Mày có nghe tao gọi không, hử? Lại ngay đây! Tao đã cấm không được săn thỏ kia mà! Mày cũng biết là tao không thích thế kia mà! Xấu lắm! Lại đây ngay lập tức!

Nhưng con Dagobert không chịu nghe, cứ tiếp tục đào bới. Y như thể nó nổi cơn điên rồi ấy. Claude đành phải đến tận nơi để bắt nó lại. Đúng lúc Claude đến sát bụi cây thì con Dagobert thôi không đào bới nữa, mà bỗng dừng lại, sủa lên một tiếng hãi hùng, rồi im bặt. Claude nhìn vào trong bụi và ngẩn người vì ngạc nhiên.

Con Dagobert đã biến mất. Không phải bụi cây che khuất nó, không, chỉ có điều không thấy nó đâu nữa. Claude trông rõ cửa hang thỏ bị con chó đào rộng ra, nhưng con chó thì không thấy đâu nữa.

Claude run run nói với Francois:

–         Francois ơi, con Dagobert mất tích rồi… Nó không thể chui vào trong cái hang thỏ được, phải không? Mình cho là nó to quá không thể chui vào được.

Bọn trẻ vội tập trung ngay lại chỗ bụi gai. Từ dưới lòng đất vẳng lên một tiếng rên rỉ. Francois ngẩn người:

–         Chết thật, đúng là nó rơi vào trong cái lỗ. Lạ thật, mình chưa bao giờ nghe thấy nói một con chó chui được vào hang thỏ. Làm thế nào lôi nó ra được bây giờ?

Claude quyết định:

–         Trước hết, phải nhổ cho hết bụi gai này. – Nghe giọng nói của Claude, người ta thấy rằng để cứu Dagobert, nó không ngần ngại gì mà không phá hết cả lâu đài Kernach nếu cần. – Mình không thể chịu được khi nghe con Dago kêu cứu mà không làm cách nào để cứu nó lên.

Bụi gai rậm quá nên không thể chui xuống dưới được. Francois chợt nhớ là nó có mang đi đủ các thứ dụng cụ. Nó chạy đi lấy một cái rìu. Đó chỉ là một cái rìu nhỏ, nhưng cũng đủ để hạ các bụi cây nhỏ. Tuy nhiên, giữa bụi gai nhỏ có lẫn một bụi gai lớn, nên cũng khá vất vả mới chặt được.

Bọn trẻ rất hăng hái làm việc. Chỉ sau một thời gian ngắn, tay chúng đã bị gai cào xây xát hết cả, nhưng chúng cũng chẳng để ý. Chúng đã thành công! Cái lỗ do con Dagobert đào rộng ra bây giờ trông rất rõ. Francois lấy đèn pin soi xuống đất. Nó bỗng kêu lên ngạc nhiên:

–         Mình đã hiểu chuyện gì xảy ra rồi! Đây là cái giếng. Bọn thỏ đào hang ngay sát cạnh giếng. Muốn đào rộng miệng hang, con Dago đã đào phải một phần miệng giếng và nó bị rơi xuống giếng.

Claude hốt hoảng:

–         Ôi, không! Không thể thế được! Dago! Dago! Mày có làm sao không?

Từ dưới sâu vẳng lên một tiếng rên rỉ xa xa. Đúng là con Dago bị rơi xuống giếng rồi. Bốn anh em nhìn nhau hốt hoảng, Francois nói:

–         Mình chỉ thấy còn một cách là lấy cuốc khơi rộng thêm miệng giếng ra thôi. Sau đó chúng ta có thể thả một cái dây thừng xuống và kéo Dago lên.

Bọn trẻ chạy đi lấy cuốc. Đào rộng miệng giếng cũng không khó khăn gì. Miệng giếng chỉ bị bụi gai lúc nãy che khuất, cộng thêm một ít đất cát, một tảng gạch xây và một vài hòn đá nhỏ. Hình như có một lúc nào đó, một mảng tường đã đổ và che lấp mất một phần miệng giếng, rồi thời gian và cỏ dại tiếp tục lấp thêm.

Claude và mấy anh em phải hợp sức lại mới vần được tảng gạch xây. Nhưng vần được nó là xong cả. Nó nằm ngang trên miệng giếng và đã được kéo sang một bên. Ngay dưới tảng gạch là mọt cái nắp bằng gỗ đã mục, có lẽ ngày xưa dùng để bảo vệ nước trong giếng. Bây giờ nó đã mục quá đến nỗi con Dagobert chỉ vừa ngồi lên thì gỗ đã vụn ra, con vật tội nghiệp đã lọt qua tấm gỗ.

Francois bỏ nốt cái phần nắp giếng ra, và bọn trẻ cúi nhìn xuống dưới miệng giếng. Cái hố có vẻ rất sâu và tối om. Francois nhặt một hòn đá ném xuống giếng. Tất cả mọi người đều nhịn thở, lắng nghe tiếng “tõm” là tiếng thông thường tiếp sau khi hòn đá rơi xuống nước. Nhưng chẳng nghe thấy gì cả. Hoặc là giếng không còn nước nữa, hoặc là giếng quá sâu, đến nỗi hòn đá rơi xuống không còn nghe thấy được… Francois cho rằng giả thuyết sau này đúng hơn.

–         Nhưng mình không hiểu tại sao giếng sâu như thế mà Dagobert ngã xuống lại không chết, mà chúng ta lại còn nghe thấy tiếng nó nữa. Nó có thể ở chỗ nào nhỉ?

Francois đưa đèn chiếu vào trong miệng giếng và… lập tức trông ngay thấy con chó. Trước đây nhiều năm, một hòn đá lớn đã rơi vào giếng và bịt mất một phần miệng giếng. Hòn đá đó mắc vào trong giếng, mà lại mắc nằm ngang, cho nên Dagobert đã may mắn rơi vào đúng giữa hòn đá này. Nó ngửng đầu nhìn các cô cậu chủ, mắt có vẻ rất sợ hãi. Nó không thể hiểu cái gì đã xảy cho nó. Chao ôi, ai bảo cứ đi đuổi thỏ mãi, thật đáng kiếp.

Claude trông thấy một cái thang sắt gắn vào thành giếng bên trong và khi chưa ai đoán được cô định làm gì, cô đã trèo qua miệng và bước xuống những bực thang gỉ. Cô cũng chẳng cần biết là những bậc thang gỉ đó có đủ sức mang cô không. Cô chỉ có một ý nghĩ trong đầu là cứu bằng được Dagobert. Cô xuống được đến chỗ con chó. Không biết cô làm thế nào mà vác được con chó lên lưng và định vừa trèo lên vừa một tay giữ chó. Nhưng không thể làm thế được. Cần phải có đủ hai tay để trèo. Mick tìm cách giúp cô. Cuối cùng Mick vứt cho cô một sợi dây thừng, để buộc qua mình con chó, lúc bấy giờ mới đưa được con vật lên. Khi đã đặt đủ cả bốn chân lên mặt đất, Dagobert lại nhảy tứ tung khắp nơi, sủa oăng oẳng và trong lúc quá vui sướng, thấy cái gì nó cũng liếm.

Mick gọi nó:

–         Thế nào, Dago? Mày còn muốn săn thỏ nữa thôi? Kể ra thì chúng tao cũng không thể mắng mày được, vì nhờ có mày, chúng tao đã tìm ra cái giếng. Bây giờ, chỉ có việc xem xét chung quanh tìm lối xuống hầm ngầm.

Bọn trẻ lại tiếp tục làm việc… Chúng lấy cuốc đào tất cả những bụi cây ở xung quanh… Gặp hòn đá nào cũng lật lên và đào đất, hy vọng sẽ tìm ra điều bí mật ở nơi đây.

Chính Annie lại có vinh dự tìm ra điều bí mật. Cô bé phát hiện ra cửa hầm ngầm. Cũng là ngẫu nhiên thôi… Cảm thấy mệt, cô bé ngồi xuống nghỉ một lát. Nằm sấp trên cát, cô nghịch ngợm lấy tay gãi đất xung quanh. Bỗng những ngón tay cô đụng phải một cái gì vừa cứng vừa lạnh. Annie gạt cát ra và thấy ngay một cái vòng bằng sắt. Cô kêu lên một tiếng, tất cả bọn trẻ chạy lại:

–         Lại đây xem này. Em tìm thấy một hòn đá ở giữa có cái vòng!

Claude, Francois và Mick xô nhau chạy lại. Francois dùng cuốc bới hết đất xung quanh hòn gạch ra. Annie nói đúng; ở giữa hòn gạch có một cái vòng sắt, những cái vòng như thế chỉ có ở những hòn gạch có thể di động được. Không còn nghi ngờ gì nữa. Hòn gạch này bịt miệng cầu thang dẫn xuống các hầm “bỏ quên”!

Bọn trẻ cảm thấy hào hứng đến cực độ. Đứa nào cũng muốn thử nắm tay vào cái vòng để nhấc hòn đá lên nhưng hòn đá không lay chuyển. Francois bèn buộc đầu một sợi dây thừng vào cái vòng, và cả bốn đứa cùng hợp sức, lấy hết sức kéo sợi dây.

Hòn đá bắt đầu hơi động đậy. Francois hô: “Nào, tất cả, cố lên!”

Một lần nữa, cả bốn lại căng gân sức. Hòn đá lay chuyển và cuối cùng bật ra. Nó bật ra đột ngột, làm cả bốn ngã chồng lên nhau. Dagobert nhảy đến cái lỗ trống hoác và sủa lên như điên, làm như thể đó là hang ổ của tất cả thỏ trên thế giới họp lại.

Claude và Francois vội đứng dậy và chạy ngay đến bên miệng hố. Hai đứa đứng đó, im lặng nhìn xuống bên dưới, nét mặt hân hoan cực độ. Thế là cuối cùng đã tìm ra con đường bí hiểm!

Một dãy bậc thang hơi dốc, đào trong đá, đi thẳng xuống dưới sâu thăm thẳm, Francois kêu lên:

–         Hãy lại đây tất cả! Cầu thang, chúng ta tìm thấy đây rồi! Nào đi xuống các hầm “bỏ quên”, nhanh lên!

Những bậc thang trơn như mỡ, Dagobert hấp tấp lao ngay xuống, trượt chân, cứ thế lăn lông lốc xuống dưới, vừa lăn vừa kêu lên sợ hãi. Francois theo sau, rồi đến Claude, Mick và Annie lần lượt xuống theo. Tất cả đều sốt ruột, thở hổn hển. Chẳng biết ở dưới đó có cái gì? Chúng đã tưởng tượng ra mình đứng giữa những kho vàng vô giá.

Ở dưới chân cầu thang, tối mờ mờ. Một mùi ẩm ướt khó chịu bốc lên, làm Annie thấy nghẹt thở. Francois nói:

– Mình mong là thứ khí này không độc. Ở dưới các hầm ngầm thường có khí độc. Nếu một trong các cậu cảm thấy hơi khó chịu, thì phải nói ngay, và chúng mình sẽ trở lên ngay.

Nhưng nếu có đứa nào cảm thấy hơi khó chịu, chắc là chúng cũng không nói ra. Cuộc phiêu lưu đã đến độ hấp dẫn, phải bỏ dở nửa chừng thì thật tiếc quá.

Qua một mặt phẳng, hẹp, cầu thang lại tiếp tục. Cầu thang thật là dài, nhưng rồi cũng hết. Francois bật đèn pin và nhìn chung quanh. Thật là một cảnh tượng kỳ lạ.

Những hầm “bỏ quên” của lâu đài Kernach được đào ngay vào trong đá. Không hiểu những hang đó là tự nhiên hay do bàn tay người đào? Không ai có thể nói được. Chỉ biết rằng, những hầm đó trông đầy bí ẩn, tối om om và dội lại mọi tiếng động thành những tiếng vang rất lớn! Francois huýt sáo một tiếng nhỏ, thế là vang lên thành nhiều tiếng một cách rất lạ. Nghe có cảm giác rờn rợn thế nào ấy.

Claude thì thào:

–         Lạ quá nhỉ?

Lập tức tiếng vang tăng câu nói đó lên gấp bao nhiêu lần. Các hầm “bỏ quên” lần lượt nhắc lại câu nói đó của cô bé: “Lạ quá nhỉ… quá nhỉ… nhỉ…”

Annie nắm lấy tay Mick, cô bé sợ hãi. Cô chẳng thích tiếng vang tí nào. Tất nhiên cô cũng hiểu rằng những tiếng đó không có gì là lạ, nhưng nghe vẫn như tiếng của hàng mấy chục người nấp trong các hang động cùng nói lên.

Mick nói:

–         Anh Francois, anh thử nghĩ xem những thoi vàng giấu ở đâu?

Và cũng ngay lập tức, tiếng vang nhắc lại: “Anh thử nghĩ xem những thoi vàng giấu ở đâu? giấu ở đâu? ở đâu?…”

Francois bật cười… và tiếng cười đó lập tức biến thành hàng loạt tiếng cười như từ các hầm bật ra, quây lấy bọn trẻ. Thật là một hiện tượng kỳ lạ vô cùng! Francois nói:

–         Chúng mình lại đằng này. May ra tiếng vang để yên cho chúng ta chăng?

Như là để chế nhạo Francois, tiếng vang nhắc lại “…để yên cho chúng ta chăng?… cho chúng ta chăng?…”

Những nhà thám hiểm nhỏ tuổi đi ra khỏi cầu thang và bắt đầu xem xét các hầm ngầm ở gần. Đó chỉ là những hang đá rất đơn giản dưới lòng lâu đài mà thôi.

Cũng có thể ngày xưa, chúng đã được dùng để giam những người tù bất hạnh, nhưng cũng rất có thể người ta chỉ dùng chúng làm kho cất giữ các đồ vật và thức ăn.

Francois lẩm bẩm:

–         Không hiểu chúng ta sẽ tìm thấy vàng ở trong cái hang nào?

Cậu đứng lại và rút tấm sơ đồ trong túi ra. Mick dùng đèn pin soi cho anh đọc. Nhưng dù trong sơ đồ có ghi một chữ “THOI” ở một chỗ rõ ràng, bọn trẻ không có một ý niệm nào về hướng phải đi để tìm đến chỗ đó. Bỗng Mick kêu lên:

–         Nhìn xem kìa: Đây có một cái hang có cửa đóng cẩn thận! Em chắc đó chính là cái hầm chúng ta đang tìm! Trong đó có các thoi vàng đó!…

Chương 13 – Kho vàng

Tất cả bốn cái đèn pin bật sáng soi vào cánh cửa bí mật. Cái cửa này có những đinh sắt rất lớn, đầu tròn, trông có vẻ vững chắc vô cùng. Francois kêu lên sung sướng và đâm bổ ngay đến cánh cửa, cậu tin chắc rằng sau cánh cửa đó có cái kho vàng ghi trên bản đồ.

Nhưng than ôi, cánh cửa lại đóng chặt! Không tìm cách nào mở được, dù là kéo ra hay đẩy vào. Có một cái khoá to tướng, nhưng không có chìa. Bọn trẻ bất lực, thất vọng đứng nhìn. Đúng vào lúc chúng tưởng đã đặt được tay lên kho vàng, thì cái cửa quái quỷ này lại sừng sững chặn đường.

Francois nói:

–         Giờ ta quay lên lấy cái búa xuống đây. Chúng ta có thể bửa gỗ xung quanh cái khoá và nậy khoá ra.

Claude tán thành:

–         Hay lắm! Ta quay lên đi!

Cả bọn quay trở lại, nhưng dưới hầm rộng quá đường đi lại chia làm nhiều nhánh nên chúng bị lạc đường. Gần như mỗi bước, chúng lại vấp phải những chiếc thùng vỡ, những khúc gỗ mục, những chai không và rất nhiều đồ vật chẳng có giá trị gì, nhưng không làm sao tìm được con đường dẫn đến chân cầu thang lúc xuống.

Đi được một lúc, Francois nói:

–         Thật là kinh khủng! Mình không có một ý niệm nào về chỗ xuống cầu thang ở đâu! Chúng ta đã đi thăm lần lượt các hầm, đi qua chỗ này chỗ khác, nhưng chỗ nào cũng giống chỗ nào! Chỉ thấy tối tăm, hôi hám và đầy bí ẩn!

Annie sợ hãi kêu lên:

–         Miễn là chúng ta không phải cứ ở đây mãi cho đến hết đời!

Mick cầm tay em, an ủi:

–         Em ngốc ạ! Chúng ta sẽ tìm thấy chỗ lên ngay bây giờ đây mà! Ơ kìa… cái gì đây thế này?

Cả bọn dừng lại. Trước mặt chúng, có một cái gì giống như một cái lò sưởi bằng đá rất cao xuyên suốt phần ngầm từ trên trần xuống đến đất. Francois soi đèn vào. Chẳng hiểu cái gì mà lại xây tròn như thế này? Bỗng Claude kêu lên:

–         Mình biết cái này là cái gì rồi! Cái giếng đó mà! Các cậu nhớ rằng trên bản đồ phần trên lâu đài cũng vẽ nó, phần hầm ngầm cũng vẽ nó. Như vậy là hiện nay chúng ta đang đứng trước phần giếng chìm sâu trong lòng đất. Không biết có chỗ nào hở ở phần này để cho người ta có thể múc nước trong hầm ngầm cũng như trên mặt đất không nhỉ?

Cả bọn đi xem chung quanh. Quả nhiên, ở phía bên kia cái vật tròn bằng gạch xây ấy, chúng tìm thấy một lỗ hổng tương đối rộng, bọn trẻ lần lượt, từng đứa một, có thể chui cả đầu và vai qua đấy. Chúng chiếu đèn soi rõ thật xa. Cái giếng sâu quá, không thể đoán được đến đâu là đáy. Francois cũng ném một hòn đá, nhưng lắng tai mãi, cũng vẫn không thấy có một tiếng động nào cả. Cậu nhìn lên phía trên và rất mừng thấy có một tia sáng nhỏ lọt qua giữa thành giếng và tảng đá đã lấp một phần miệng giếng… cái tảng đá khi Dagobert rơi xuống đã ngồi lên.

–         Không còn nghi ngờ gì nữa, Claude đã nói đúng. Đúng là cái giếng rồi! May quá! Giờ đã tìm thấy cái mốc này, chúng ta biết rằng chỗ xuống cầu thang không xa đây mấy nữa!

Bọn trẻ tự nhiên thấy khoẻ hẳn ra. Chúng cầm tay nhau đi trong bóng tối mò mẫm, chỉ có những ánh đèn pin yếu ớt soi đường. Bỗng nhiên, Annie kêu lên sung sướng:

–         Chỗ xuống cầu thang kia rồi! Em trông thấy có ánh nắng mặt trời.

Cả bọn chạy đến chỗ ngoặt gần nhất và vui sướng thấy các bậc thang dẫn lên bên trên. Francois nhìn quanh để xác định phương hướng khi trở lại. Cậu cũng không chắc có thể tìm lại được cái cửa gỗ.

Cả bọn vội vã chạy lên trên. Trên này, mặt trời chiếu sáng, ấm áp dễ chịu, khác hẳn với không khí lạnh lẽo dưới hầm ngầm.

Francois xem đồng hồ và kêu lên ngạc nhiên:

–         Đã sáu rưỡi chiều rồi! Thảo nào mình thấy đói thế! Chúng mình quên cả ăn bữa xế. Chúng mình đã làm việc rồi đi quanh quẩn dưới hầm ngầm mấy giờ liền!

Mick đề nghị:

–         Vậy thì bây giờ chúng ta hãy đi ăn bữa tối trước khi tiếp tục tìm kiếm. Em có cảm tưởng là dễ đến một năm nay chưa được ăn gì cả!

Francois giả bộ lạ lùng:

–         Ơ kìa, trưa hôm nay em đã ăn gấp đôi mỗi người trong bọn chúng ta rồi cơ mà… – nói xong, cậu lại mỉm cười vui vẻ – Nói thế chứ, anh cũng thấy đói như em! Nào chúng ta lại đây, ăn cho thật no vào. Claude này, cậu đặt cho một xoong nước lên bếp được không? Chúng ta nên ăn một cái gì nóng, một cốc sô-cô-la nóng chẳng hạn. Mình cảm thấy rét run lên vì ở mãi dưới lòng đất.

Bọn trẻ thích thú được đun nước sôi trên ngọn lửa đốt bằng cành cây khô. Và thật khoan khoái biết bao được vừa nằm dài sưởi những tia nắng mặt trời đang lặn, vừa nhấm nháp bánh mì, phó mát, ăn bánh quy và bánh ga-tô. Dagobert cũng được ăn ngon. Vừa rồi, cuộc thám thính không làm cho nó thích thú, và trong suốt cả thời gian ở dưới mặt đất, nó không rời bọn trẻ một bước, đi liền sát cạnh, đuôi cụp giữa hai chân. Nhất là cái tiếng vang làm cho nó khiếp đảm vô cùng.

Có một lúc, nó có sủa lên mấy tiếng và lập tức nó tưởng rằng trong hầm có đến một đàn chó cùng sủa còn to hơn nó. Sau cuộc thử nghiệm kinh nghiệm kinh khủng đó, nó không còn dám ho he tý nào. Bây giờ, nó lại thấy rất sung sướng được đớp những miếng bánh bọn trẻ vứt cho và mỗi lần đến gần Claude, lại liếm chân cô chủ một cái.

Khi bọn trẻ ăn xong và thu dọn đồ ăn còn lại cất đi, chúng thấy đã gần tám giờ. Chiều trời ngả xuống nhanh chóng, và bắt đầu trở lạnh. Francois nói:

–         Mình thì bây giờ chẳng muốn xuống lại hầm ngầm một chút nào. Chính mình cũng rất muốn bổ cái cửa đó ra để xem bên trong có gì. Nhưng mình mệt quá rồi. Vả lại, mình cũng chẳng muốn trời tối tăm thế này mà bị lạc đường dưới đó.

Những đứa khác cũng đồng ý với cậu ta, nhất là Annie đã hơi sờ sợ cái chuyện phải đi xuống dưới đất lúc trời đã tối. Vả lại, cô bé đã buồn ngủ díp mắt lại rồi, cả ngày vừa lắm chuyện xúc động, vừa mệt mỏi đến thế kia mà.

Claude bắt Annie đứng dậy:

–         Dậy, Annie, dậy! Phải đi ngủ thôi! Chúng ta sẽ quấn chăn ngủ thật ngon, và ngày mai khi thức dậy, chúng ta sẽ vui sướng biết bao khi nghĩ đến việc chúng ta sắp mở toang cánh cửa hầm bí mật!

Bốn đứa trẻ và con chó đi vào gian phòng có trần và chui vào trong chăn. Dagobert lần vào giữa hai cô bé và nằm đè lên chân chúng, nhưng nó nặng quá, nên bị Annie đẩy ra. Claude kéo nó lại, cho nó nằm lên trên chân mình và nằm im nghe nó thở phì phò. Claude cảm thấy rất sung sướng. Cô đang ngủ trên hòn đảo của cô, mấy anh em cô sắp tìm ra những thoi vàng, nhất định là như thế! Lại có cả Dagobert đây nữa, đang ngủ bên cạnh. Có lẽ rồi mọi việc cũng suôn sẻ cả thôi.

Rồi Claude cũng ngủ thiếp đi. Đã có Dagobert canh gác, bọn trẻ không còn gì phải sợ cả. Chúng ngủ một mạch cho đến sáng hôm sau. Lại chính cái con Dagobert bất trị ấy đánh thức chúng dậy: nó trông thấy có một con thỏ chạy bên ngoài vòm cổng và chạy xổ ra để đuổi bắt. Nó làm cho Claude thức giấc. Cô bé ngồi dậy dụi mắt và kêu lên:

–         Dậy nào! Tất cả dậy nào. Trời sáng rõ rồi, chúng ta đang ở trên đảo đây mà! Dậy!

Mấy anh em đều vội vàng trở dậy. Nghĩ đến những điều khám phá ra hôm trước, chúng bỗng cảm thấy vô cùng phấn khởi. Francois nghĩ ngay đến cái cửa gỗ. Cậu cảm thấy có thể dùng búa bổ vỡ cái cửa. Và lúc đó, chúng sẽ thấy gì đằng sau cái cửa?

Mọi người trước hết ăn sáng rất vui vẻ. Không thể để bụng đói mà xuống hầm được. Rồi Francois cầm búa và cả bọn cùng đi xuống hầm. Xuống đến nơi, chúng bỗng thấy không biết đi đằng nào để tìm được cái cửa gỗ. Thật là nản! Claude thở dài ngao ngán:

–         Rồi chúng mình lại lạc như hôm qua cho mà coi! Những cái hầm và những đường ngang lối dọc này y như là một mê cung. Chúng mình không thể làm thế nào xác định được phương hướng.

Lúc đó Francois có một sáng kiến. Cậu rút trong túi ra một viên phấn trắng, và quay trở lại chân cầu thang, vạch lên tường một cái dấu. Sau đó nó cứ tiếp tục vừa đi dọc con đường tối om vừa vẽ những mũi tên lên tường. Chúng đi đến tận cái miệng giếng rất dễ dàng và Francois vui sướng nói:

–         Từ nay, mỗi khi chúng ta đi đến chỗ cái giếng, chúng ta sẽ có thể dễ dàng trở lại lối ra. Chỉ cần theo các mũi tên mình đã vẽ. Bây giờ là vấn đề tiếp tục: chúng ta sẽ đi theo đường nào? Chúng ta sẽ thử đi vào một con đường và mình sẽ vẽ trên tường dọc con đường đi đó: nếu nó không dẫn đến cái cửa gỗ, chúng ta sẽ quay lại và xoá các mũi tên đó đi. Lại từ cái giếng, chúng ta sẽ đi thử con đường khác cho đến khi tìm ra con đường đúng.

Thật là một ý kiến hay. Con đường hành lang đầu tiên không dẫn đến đâu cả, và bọn trẻ phải trở lại, xoá những mũi tên đi. Trở về đến cái giếng, chúng lại tiếp tục đi theo hướng khác. Và lần này, chúng tìm thấy cái cửa gỗ.

Cánh cửa sừng sững trước mặt chúng, với những chiếc đinh to tướng, trông vững chắc, không thể xâm phạm. Bọn trẻ nhìn nó, đắc thắng. Francois giơ búa lên, bổ một nhát thật mạnh, ngay vào chỗ cái khoá. Nhưng chất gỗ, tuy trông cũ như thế, vẫn còn chắc lắm, lưỡi búa chỉ hơi làm xây xát. Francois lại bổ nữa. Than ôi! Lưỡi búa chém đúng một cái đinh, trượt sang bên cạnh. Một mảnh gỗ bật ra…và cắm đúng vào má Mick.

Cậu bé kêu lên một tiếng đau đớn. Francois hốt hoảng buông búa và xem xét vết thương. Má Mick chảy nhiều máu…Mick nói:

–         Có cái gì đó bay từ cửa ra và cắm vào má em. Có lẽ là một cái dằm…

–         Phiền quá nhỉ! – Francois vừa nói vừa xoay cái đèn bấm để soi cho rõayco h dch vết thương của em – Em có thể chịu được để anh rút cái dằm ra không?

Mick lại muốn tự mình rút cái dằm ra. Nó nhăn mặt đau đớn và khi rút được cái dằm ra thì đau tái cả mặt. Francois nói:

–         Có lẽ em nên trở lên bên trên cho thoáng. Đằng nào cũng phải rửa vết thương này và cầm máu lại. Annie có một chiếc khăn tay sạch đấy, phải thấm khăn vào nước và chấm chấm vào má.

–         Em sẽ lên với anh Mick – Annie quyết định – Francois ở lại đây với Claude. Không cần phải lên tất cả đâu!

Nhưng Francois vẫn muốn đưa Mick lên tận bên trên rồi mới trở xuống với Claude để mở cho được cái cửa đáng ghét kia. Cậu đưa cái búa cho Claude:

–         Mình lên với hai đứa một chút. Trong lúc đó, cậu cứ thử bổ cái cánh cửa này xem. Không nên để mất thì giờ. Mở được cái cửa này cũng vẫn còn lâu. Chỉ vài phút mình sẽ quay lại. Bây giờ đã đánh dấu đường rồi thì lên xuống cũng nhanh thôi.

Claude gật đầu, cầm lấy búa:

–         Được rồi, cậu cứ đi. Tội nghiệp Mick, mặt cậu ta trắng bệch như tờ giấy!

Dagobert ở lại cùng với Claude. Cô bé bắt đầu tấn công cái cửa dữ dội. Francois đưa Mick và Annie lên trên mặt đất. Annie dúng cái khăn tay sạch của mình vào trong xoong nước và sẽ sàng lau vết thương của anh. Má Mick vẫn còn chảy máu nhưng vết thương cũng không sâu lắm. Cậu bé dần dần hồng hào trở lại và lại nói đến chuyện trở xuống hầm cùng với Francois.

–         Không được đâu – Francois nói – Tốt hơn hết là em hãy nằm một lúc trên bãi cỏ. Em nằm ngửa ra, đó là cách nằm tốt nhất khi bị chảy máu cam… cho nên chảy máu má có lẽ nằm thế cũng tốt đấy. Cứ thử xem sao! Em có thích cùng với Annie trèo lên mấy tảng đá kia mà ngồi không? Ở đó ta có thể nhìn thấy cái xác tàu. Các em sẽ nghỉ ngơi ở đấy khoảng nửa giờ. Nào đi nào, anh sẽ đưa các em lên đấy rồi anh sẽ xuống hầm. Tốt hơn hết, trong lúc má em còn chảy máu thì em đừng có đứng dậy.

Francois đưa hai em ra ngoài sân lâu đài, trèo lên những tảng đá quay mặt ra biển khơi. Vẫn trông thấy cái vỏ màu sẫm của xác tàu bị chốt cứng trên các mỏm đá nhọn. Mick nằm ngửa và ngắm nhìn bầu trời, chỉ ước mong cho má mình nhanh chóng cầm máu. Cậu không muốn mọi người tìm thấy kho vàng mà lại không có cậu.

Annie cầm lấy tay anh; tai nạn xảy ra cho anh tuy nhỏ nhưng cũng làm Annie thương anh lắm. Cô cũng mong được chứng kiến lúc tìm ra các thoi vàng, nhưng cô vui lòng ở cạnh anh cho đến khi anh đỡ đau, Francois ngồi với hai em một tí rồi quay lại chỗ cầu thang và khuất xuống dưới đó…

Xuống đến nơi, cậu bé đi theo các mũi tên bằng phấn và nhanh chóng đến ngay chỗ cái cửa. Claude vẫn còn đang ra sức bổ vào cửa. Cô đã bổ vỡ hết gỗ xung quanh cái khoá, thế mà cửa vẫn không chịu mở ra. Francois cầm lấy cái búa và ra sức nện thật mạnh. Nện được mấy cái, cái cửa đã có vẻ lung lay. Francois đặt búa xuống đất, vừa thở vừa nói:

–         Nó gần long ra rồi. Chúng ta phải làm nốt cho xong. Đứng xê ra, Dagobert. Còn Claude, nào cậu với mình cùng đẩy nào.

Hai anh em cùng ra sức đẩy và cái cửa kêu răng rắc rồi bật ra. Cánh cửa mở rộng, hai anh em chạy ùa vào trong, vừa đi vừa quay đèn soi khắp nơi.

Gian phòng không rộng hơn những hầm khác là bao và cũng được đào trực tiếp vào trong đá. Nhưng nó khác các hầm kia ở chỗ trong cùng góc phòng, có để một đống những cái gì là lạ, giống như những hòn gạch. Nhưng là những hòn gạch đặc biệt, làm bằng một thứ kim loại màu vàng xỉn. Francois nhặt một hòn lên xem. Cậu bỗng kêu lên:

–         Ôi, Claude! Những thoi vàng! Những hòn gạch này đều bằng vàng thật! Trông thì không giống vàng, nhưng đúng là vàng thật rồi! Claude, ôi Claude ơi… trong hầm này có cả một gia tài vô giá… và cái kho vàng này thuộc về cậu! Chúng mình cuối cùng đã tìm ra kho vàng!

Chương 14 – Sa bẫy

Claude không sao thốt ra một lời. Cô cũng nhặt lấy một thoi vàng và đứng im, mắt nhìn chằm chằm vào đống vàng trước mặt. Cô không thể tưởng tượng nổi những vật lạ lùng này, trông hơi giống những hòn gạch, lại là thứ kim loại quý giá đến thế. Trống ngực cô đánh thình thình. Chao ôi, thật là tuyệt diệu, li kì…

Bỗng nhiên, Dagobert gầm gừ; nó đứng quay lưng lại bọn trẻ, mõm hướng ra cửa. Rồi nó bỗng vùng lên dữ dội và sủa ầm ĩ cả gian phòng.

Francois gọi:

–         Mày có im đi không, Dago? Mày nghe thấy cái gì vậy? Hay là hai đứa bé trở xuống với chúng ta chăng?

Cậu chạy ra cửa, khum tay làm loa và lấy hết sức kêu to:

–         Mick! Annie! Có phải các em đấy không? Đến đây nhanh lên, anh và Claude đã tìm ra các thoi vàng! Ở đây này! Nhanh lên!

Dagobert thôi không sủa nữa nhưng vẫn gầm gừ. Claude lo lắng:

–         Mình thấy thái độ Dagobert rất lạ. Nếu là Mick và Annie thì nó không như thế đâu!

Nó chưa nói xong, thì hai anh em bỗng choáng cả người; một giọng nói người lớn vang lên trong căn hầm chật hẹp, tiếng vang đi mãi mãi:

–         Ai thế? Ai mà dám xuống đây thế hả?

Claude sợ quá, bám lấy Francois. Dagobert vẫn gầm gừ, lông dựng đứng. Claude tắt đèn, thì thào:

–         Im nào Dago!

Nhưng con chó không chịu nghe, nó vẫn gầm gừ.

Bỗng nhiên bọn trẻ thấy một ngọn đèn pin sáng quắc loé lên ngay gần đó. Quầng sáng chiếu ngay vào chúng và người cầm đèn trông thấy chúng thì ngạc nhiên đứng dừng lại. Vẫn cái người nói lúc nãy lại cất tiếng:

–         Ồ, hay chưa kìa! Thế nào mà lại có hai đứa trẻ ở trong hầm lâu đài của tôi thế này?

Claude kêu lên:

–         Ông nói lâu đài của ông là nghĩa thế nào?

–         Nó là thế này, cô bé ạ, lâu đài này là của tôi rồi, tôi đang làm thủ tục để mua nó mà!

Một tiếng nói thứ hai, nghe cắm cảu hơn, cất lên sau lưng người đang nói:

–         Này hai đứa kia, chúng bay làm gì ở dưới hầm này vậy? Mick và Annie mà chúng bay gọi lúc nãy là những đứa nào vậy? Và những thoi vàng mà chúng bay tìm thấy là những thoi như thế nào?

Francois thì thầm với Claude:

–         Đừng có trả lời!

Chao ôi! Tiếng vang lập tức đón lấy những lời đó và nhắc lại ầm ầm trong các đường hầm: “Đừng có trả lời”… “Đừng có trả lời”…

–         A, như vậy là chúng bay không muốn trả lời phỏng? – Cái người nói sau cất giọng gầm gừ hỏi. Và hắn hùng hổ tiến đến trước mặt hai anh em. Con Dagobert nhe răng gầm gừ, nhưng hắn không có vẻ gì sợ hãi. Hắn tiến thẳng đến cửa và chiếu đèn pin quan sát một lượt khắp cái hầm.

–         Gút-ta, hãy nhìn xem này! – hắn kêu lên – Mày nói đúng thật, đúng là số vàng tưởng mất vẫn còn trong hầm ngầm! Toàn là vàng thoi thế này thì mang đi dễ dàng quá!… Tao nói thật, chúng mình rơi vào một mỏ vàng thật rồi!

Claude đỏ bừng mặt, giận dữ:

–         Vàng này là của tôi! Hòn đảo và toà lâu đài là tài sản của mẹ tôi, và tất nhiên kể cả những gì trong đó! Kho vàng này do cụ tôi mang đến đây cất giấu, trước khi tàu bị đắm. Vàng này không bao giờ của các ông cả! Khi nào tôi trở về nhà, tôi sẽ nói cho bố mẹ tôi biết chúng tôi đã tìm thấy gì và lúc đó tôi bảo đảm là bố mẹ tôi không bán cái gì cho ông cả, cả hòn đảo lẫn toà lâu đài. Kể ra, các ông cũng tinh đấy, khi tìm ra bí mật về kho vàng ghi trên miếng giấy da cũ, nhưng chúng tôi đã nhanh hơn các ông. Chúng tôi đã tìm thấy kho vàng trước các ông!

Hai người đàn ông im lặng nghe Claude nói, giọng rõ ràng nhưng đầy phẫn nộ. Bỗng nhiên một người cười phá lên:

–         Đúng mày chỉ là một nhóc con! Mày không tự cho là có thể đủ sức cản trở công việc của chúng tao chứ? Chúng tao sắp mua hòn đảo này và tất cả những gì nó chứa ở trong! Chúng tao sẽ mang vàng đi tức khắc khi hợp đồng mua bán vừa ký xong! Vả lại, nếu có chuyện gì xảy ra mà chúng tao không mua được hòn đảo thì chúng tao cũng cứ lấy vàng đi như thường. Đưa một cái tàu đến gần đây rồi chở dần ra bằng ca-nô là chuyện dễ ợt! Chúng mày đừng có mơ tưởng hão! Chúng tao muốn làm gì là được nấy!

–         Không bao giờ! – Claude kêu lên và bước lên một bước – Bây giờ tôi sẽ về ngay nhà và báo cho bố tôi biết những chuyện đang xảy ra ở đây.

Một người đàn ông nắm lấy hai vai Claude và đẩy cô trở lại trong hầm:

–         Không đâu, cô bé ạ! Cô không trở về nhà được đâu! Cô sẽ ở lại đây. Và nếu cô không muốn tôi giết chết con chó kia, nó có vẻ sẵn sàng xông vào cắn tôi, thì cô hãy giữ cho nó đứng yên.

Lúc đó Claude mới nhận thấy gã đàn ông cầm sẵn một khẩu súng ngắn loé sáng lên một cách đáng sợ và cô thấy kinh hãi. Cô vội vàng nắm cái vòng cổ mà lôi con Dagobert về phía mình mà nói:

–         Đứng yên, Dagobert! Không có chuyện gì đâu!

Nhưng Dago thì đoán ra là đang có chuyện nghiêm trọng, nó cảm thấy thế mà lại. Cho nên nó tiếp tục gầm gừ một cách hung dữ. Gã kia tiếp tục nói, sau khi đã trao đổi rất nhanh với bạn gã:

–         Bây giờ hai đứa nghe tao nói đây! Nếu chúng bay ngoan ngoãn, thì sẽ không có gì xảy ra cho chúng bay cả. Nhưng nếu chúng bay cứ nhất định cản trở chúng tao, thì chúng bay sẽ phải hối hận về việc đó. Chúng tao bây giờ định thế này… Chúng tao sẽ đi ca-nô ra biển và nhốt chúng bay ở đây. Sau khi đã thuê được một chiếc tàu, chúng tao sẽ trở lại mang vàng đi. Bây giờ đã tìm thấy kho vàng rồi thì chúng tao cũng chẳng cần mua hòn đảo này làm gì nữa.

Hắn cứ nói mà không để ý đến những cái nhìn hốt hoảng của hai đứa bé trao đổi với nhau. Hắn nói tiếp:

–         Bây giờ, chúng bay sẽ viết cho hai đứa còn ở trên kia một mảnh giấy bảo chúng rằng đã tìm thấy kho vàng và gọi chúng xuống xem… Khi chúng xuống đây, chúng tao sẽ nhốt cả bốn đứa vào trong hầm có kho vàng. Chúng bay có thể chơi với những thoi vàng đó thế nào tuỳ thích. Hãy yên trí, từ lúc này cho đến lúc chúng tao về. Chúng tao không để cho chúng bay chết đói chết khát đâu mà sợ. Chúng tao sẽ mang thức ăn xuống cho…

Người kia rút từ trong túi ra một cái bút chì và một mẩu giấy:

–         Này đây, hãy viết thư cho Mick và Annie đi. Đưa cho con chó mang lên. Chắc là nó làm việc đó được đấy. Nào, nhanh lên!

Claude giận dữ kêu lên:

–         Tôi không viết! Tôi không viết cái gì hết! Các ông không thể bắt tôi làm một việc như vậy được! Không bao giờ tôi lại gọi Mick và Annie để cùng sa vào bẫy với chúng tôi cho các ông bắt cầm tù tất cả! Và tôi cũng không cho phép các ông mang vàng của tôi đi. Vàng của tôi mới tìm ra!

Một trong hai gã đàn ông bỗng có một sáng kiến, hắn giơ nòng súng lên và nói:

–         Nếu mày không chịu vâng lời thì tao bắn chết con chó này!

Claude cảm thấy lạnh toát cả người và kêu lên một tiếng hãi hùng:

–         Không! Không! Đừng làm như thế!

–         Vậy thì viết đi, cô bé! – gã kia đưa mẩu giấy và bút chì cho Claude – Nào thôi, cầm lấy, tôi sẽ đọc cho cô viết…

–         Tôi không thể viết được! – Claude khóc lên rưng rức – Tôi không muốn các ông bắt cả Mick và Annie!

–         Vậy thì tôi sẽ bắn chết con chó này!

Người kia nói bằng một giọng lạnh lùng và cả quyết. Hắn chĩa súng về phía con Dagobert. Claude ôm choàng lấy con chó và gào ầm lên:

–         Không! Không! Hãy dừng lại! Tôi sẽ viết tờ giấy ấy vậy! Đừng bắn! Đừng bắn!

Nói rồi cô bé cầm lấy giấy và bút chì và nhìn người đàn ông chờ đợi. Hắn ra lệnh:

–         Đây viết như thế này: “Mick và Annie thân mến. Bọn mình đã tìm thấy kho vàng. Hãy xuống ngay hầm với bọn mình để cùng vui chung”. Xong, ký tên.

Claude viết theo lời người kia đọc, rồi ngoan ngoãn ký tên. Nhưng đáng lẽ ký là Claude, thì cô ký là Claudine. Cô nghĩ rằng Mick và Annie biết cô không bao giờ chịu ký tên như thế. Cô chẳng đã nhiều lần nói là ghét cái tên Claudine lắm hay sao. Cô hy vọng sẽ ngầm báo cho hai đứa biết được là ở dưới này đang có chuyện không hay xảy ra.

Người kia cầm lấy tờ giấy, đọc lại rồi buộc vào cổ con Dago, con này trong suốt thời gian vừa rồi không lúc nào thôi gầm gừ, nhưng Claude đã cố giữ được nó khỏi chồm lên cắn hai người kia. Người kia lại ra lệnh:

–         Thôi bây giờ cô sai nó mang giấy lên cho hai đứa trên kia đi!

Claude nói:

–         Đi đi, Dagobert! Đi lên tìm Mick và Annie, đưa thư cho họ!

Dagobert không muốn xa rời cô chủ, nhưng nó có vẻ hiểu những lời nói đầy lo âu của Claude. Nó nhìn Claude một lần cuối, liếm chân Claude một cái, rồi phóng lên con đường hầm, nó tìm đường rất giỏi, trèo lên các bậc đá và ra hẳn ngoài trời. Nó dừng lại giữa sân cỏ và đánh hơi Mick và Annie.

Nó đánh hơi theo vết bọn trẻ và chẳng mấy lúc tìm thấy hai đứa nằm trên mấy tảng đá. Bây giờ Mick đã cảm thấy khoẻ hơn nhiều, má không chảy máu nữa. Trông thấy con chó, nó ngồi dậy, kêu lên ngạc nhiên:

–         Kìa, Dagobert! Thế nào mà bạn lại đi tìm chúng tôi thế này, hả bạn Dagobert? Bạn ở dưới hầm mãi chán rồi phải không?

Annie kêu lên:

–         Anh Mick nhìn kìa, có cái gì trăng trắng buộc ở cổ con Dago kìa! Một cái thư. Chắc là anh Francois và Claude viết thư cho chúng mình bảo xuống với họ chứ gì. Con Dago thật thông minh, nó biết là nó phải làm nhiệm vụ đưa thư mà!

Mick tháo cái thư ở cổ con chó ra và chăm chú đọc. Rồi cậu đọc to lên cho Annie cùng nghe: “Mick và Annie thân mến. Bọn mình đã tìm thấy kho vàng. Hãy xuống ngay hầm với bọn mình để cùng vui chung. Claudine.”

Annie reo lên, mắt sáng ngời:

–         Hoan hô, Francois và Claude đã tìm ra kho vàng! Anh Mick, bây giờ anh đã thấy đỡ chưa, để xuống hầm. Phải nhanh lên mới được.

Nhưng Mick vẫn ngồi yên không đứng dậy. Nó ngồi nguyên trên hòn đá, mắt nhìn tờ thư một cách băn khoăn. Annie sốt ruột hỏi:

–         Cái gì thế, anh Mick?

Mick lắc đầu một cách khó hiểu và nói:

–         Anh chỉ thấy lạ là tại sao Claude lại ký tên là Claudine? Em cũng biết nó ghét là con gái và mang một cái tên con gái như thế nào rồi. Em cũng biết có ai lỡ gọi nó là Claudine thì không bao giờ nó thèm trả lời. Thế mà trên cái thư này, nó lại tự gọi nó là Claudine. Cái đó làm cho anh thấy ngờ ngợ. Hình như nó muốn chúng ta chú ý đến một cái gì, như là báo cho chúng ta biết có một việc gì không ổn.

–         Gớm, anh Mick, thôi đừng lẩm cẩm nữa – Annie sốt ruột nói – có cái gì mà không ổn được! Thôi xuống đi, em đang nóng lòn muốn gặp Francois và Claude.

Mick quyết định:

–         Hãy đợi một chút, Annie ạ. Để anh chạy ra bến xem ngoài chúng ta ra có ai lên đảo không đã! Em đợi anh ở đây nhé!

Nhưng Annie không chịu ở lại một mình. Nó đi theo Mick, vừa đi vừa lầu bầu là Mick quá cẩn thận. Khi hai anh em ra đến gần bến, đã trông thấy ca-nô của mình rồi lại thấy ngay bên cạnh có một chiếc ca-nô máy. Thế là Mick đã không lầm: trên đảo đã có những người lạ!

Cậu bé thì thầm:

–         Em thấy không? Có người đã đổ bộ lên đây, chắc hẳn đó là cái lão muốn mua toà lâu đài. Anh đoán hắn cũng đã đọc được tấm bản đồ và cũng biết có một kho vàng giấu dưới đó… Theo anh, hắn muốn chúng ta xuống dưới đó để giam chúng ta cùng với Claude và Francois, trong lúc đó hắn lấy cắp vàng mang đi. Chính hắn đã bắt Claude phải viết bức thư này… nhưng Claude đã tinh khôn ký bằng một cái tên không bao giờ dùng đến để ngầm báo cho chúng ta biết. Vậy thì bây giờ hãy nghĩ nhanh xem phải làm cái gì… Chúng ta phải làm cái gì bây giờ?…

Chương 15 – Mick ra tay

Mick cầm tay Annie, kéo em ra khỏi tầm nhìn từ dưới bến lên. Có thể gã kia không đến đảo một mình. Có thể còn tên nữa rình rập đâu đấy và thấy chúng chăng… Mick bắt Annie phải chạy, và hai đứa về đến cái phòng hôm trước chúng ngủ đêm ở đó. Về đến nơi, hai đứa ngồi vào một góc… Mick thầm thì:

–         Không còn nghi ngờ gì nữa., Francois và Claude đã bị những kẻ lạ mặt bắt gặp trong khi đang mở cửa kho vàng. Không biết bây giờ chúng mình nên làm gì… Có một điều chắc chắn là chúng ta không thể xuống dưới hầm được nếu chúng ta không muốn cũng lại bị bắt. Kìa, con Dagobert đi đâu vậy?

Con chó từ nãy vẫn đi theo, tự nhiên quyết định chạy thẳng đến chỗ cửa xuống hầm và biến mất. Nó có vẻ muốn đi tìm Claude ngay tức khắc vì nó linh cảm thấy cô chủ nó đang bị nguy hiểm đe doạ. Mick và Annie nhìn theo nó lo lắng. Dagobert còn ở cnạh chúng thì chúng còn cảm thấy hơi yên tâm. Bây giờ, nó chạy đi mất rồi, hai đứa cảm thấy mình lẻ loi quá!

Không đứa nào quyết định được cái gì. Bỗng dưng Annie có ý kiến:

–         Em biết là chúng mình nên làm gì rồi. Chúng mình hãy lấy ca-nô chạy về đất liền cầu cứu.

Mick âm thầm trả lời:

–         Anh đã nghĩ đến điều đó, nhưng anh nghĩ là chúng ta không có khả năng luồn lách qua các mỏm đá ngầm. Vả lại, chúng ta không đủ sức chèo cho đến bờ đâu. Trời ơi! Không có cách nào nữa cả…

Hai anh em cũng chẳng có thì giờ để suy nghĩ gì lâu. Có hai người đàn ông ra khỏi đường hầm đang đi tìm chúng. Họ đã trông thấy Dagobert trở về không có lá thư và hiểu rằng Mick và Annie đã đọc thư. Nhưng họ không hiểu tại sao hai đứa trẻ không theo lời Claude đi xuống hầm để tìm chúng.

Mick nghe thấy tiếng họ gọi. Lập tức, cậu nắm chặt tay Annie không cho em cựa quậy. Cậu cẩn thận tiến ra phía cửa và thở phào nhẹ nhõm thấy hai gã kia đi về phía đối diện với chúng. Cậu bỗng nghĩ ra một ý hay:

–         Annie! Anh biết chúng mình có thể trốn ở đâu rồi! Chạy đến cái giếng cũ. Chúng mình bước xuống mấy bậc thang sắt và trốn ở đấy cho đến khi có thể lên được. Anh chắc bọn cướp không đứa nào biết mà đến đấy nhòm xuống đâu.

Việc đứng trên thang sắt gỉ, trong bóng tối ở giếng cũ không làm Annie thích một tí nào. Nhưng Mick đã bắt buộc em đứng dậy và chạy qua khoảng trống giữa sân, trong khi hai gã kia đang tìm ở phía bên kia lâu đài. Hai đứa trẻ có đủ thì giờ trốn trước khi họ trở lại.

Mick đẩy cái nắp gỗ mục sang một bên và giúp Annie bước xuống mấy bậc thang. Cô bé sợ lắm. Mick cũng chui xuống giếng và cố sức đậy cái nắp cho kín ở trên đầu. Hòn đá trước kia Dagobert bị rơi xuống vẫn còn đấy. Mick bước xuống thêm vài bậc, đứng lên hòn đá, tay vẫn bám vào thang, nhún nhảy; hòn đá đã mắc cứng vào thành giếng, nên không lay chuyển tí nào.

Mick thì thầm với Annie:

–         Hòn đá này khá vững để em có thể ngồi lên trên. Đến đây ngồi, như thế đỡ mệt hơn là bám vào những bậc thang đó.

Annie vừa nghe theo vừa run như cầy sấy. Hai đứa ngồi yên như thế một lúc lâu, hy vọng sẽ không ai đến tìm chúng ở cái chỗ trốn bất tiện này. Một lúc sau, chúng nghe thấy hai gã đàn ông trở lại và đến gần chỗ chúng nấp. Hai gã chẳng biết làm thế nào hơn là gọi to lên:

–         Mick! Annie! Hai đứa kia tìm các cháu đấy! Các cháu ở đâu? Các chú có tin mừng báo cho các cháu đây!

Mick lẩm bẩm trong miệng:

–         Nếu có tin mừng thật, sao họ không để tự Francois và Claude báo cho chúng mình biết? Mưu của họ lộ rõ rồi! Anh nghi có chuyện xảy ra ở trong hầm ngầm là đúng. Anh rất muốn gặp Francois và Claude để xem có chuyện gì xảy ra.

Bây giờ, hai gã đàn ông đã dừng lại ở giữa sân. Chúng có vẻ rất bực bội. Một gã nói:

–         Không biết hai đứa quỷ quái ấy nó đi đâu? Ca-nô của chúng nó vẫn còn ở ngoài bến, chứng tỏ chúng chưa rời khỏi đảo. Chắc là chúng chỉ trốn ở đâu đấy thôi. Chúng ta cũng không thể đợi chúng suốt ngày được.

–         Cậu nói đúng đấy. Chúng ta không nên mất thì giờ. Hãy đem cho hai đứa bị giam dưới kia một ít thức ăn và đồ uống. Mình đã trông thấy có thức ăn ở trong cái phòng có tường đá. Chắc là của bọn trẻ để dành ăn dần. Chúng ta để lại một nửa cho hai đứa ở trên này ăn. Khi đi, chúng ta kéo theo cả ca-nô của chúng để chúng không thể ra khơi được.

–         Đồng ý. Vấn đề chính là mang vàng đi xa càng nhanh càng tốt và giam giữ bốn đứa trẻ trên đảo này cho đến khi chúng ta đã cất giấu của cải xong yên ổn. Không cần tính đến chuyện mua toà lâu đài này làm gì nữa. Trước kia chúng ta có ý định đó cũng chỉ là để tìm kho vàng mà thôi. Bọn trẻ con đã tìm hộ chúng ta. Đời quả thật là tuyệt đẹp!

–         Thôi đừng ba hoa nữa, hãy mang thức ăn xuống cho bọn tù nhân và mặc kệ bọn khác. Hay là cậu cứ đứng đây đợi trong lúc mình xuống hầm. Biết đâu hai đứa kia bất chợt trở về và cậu chỉ có việc tóm cổ chúng.

Mick và Annie nghe hai gã kia nói chuyện với nhau, im thin thít không dám thở mạnh. Mong sao chúng không có ý định ngó một cái xuống cái giếng cũ. Hai đứa trẻ nghe thấy một gã đi về phía gian phòng để lấy thức ăn mang xuống cho tù nhân. Còn một gã đứng ở sân, miệng huýt sáo một bài hát đang thịnh hành.

Thời gian trôi đi, đối với hai đứa trẻ, dài dằng dặc!

Một lúc sau, gã xuống hầm đã lên và cả hai cùng đi về phía cái bến nhỏ. Rồi Mick nghe thấy tiếng một chiếc mô-tơ khởi động.

–         Bây giờ chúng mình có thể ra được rồi, Annie! Thật là vừa hay. Ở đây lạnh quá! Anh phải vội ra ngay chỗ nắng ấm mới được.

Hai anh em vội vã ra khỏi chỗ nấp và đứng một lúc lâu sưởi ấm dưới ánh mặt trời mùa hè chói chang. Tuy vậy, chúng vẫn đứng nấp cho khỏi bị lộ và nhìn ra biển, chúng thấy rõ một chiếc ca-nô máy đang chạy thẳng vào bờ. Mick kêu lên vui vẻ:

–         Thế là tốt rồi. Chúng ta đã thoát bọn chúng, ít nhất cũng trong lúc này. Chúng không kéo theo chiếc ca-nô của chúng ta như chúng nói. Nếu như chúng mình có thể giải thoát cho Francois và Claude, thì chúng mình có thể đi tìm người cứu được. Chỉ có Claude mới có thể bơi thuyền về tới đất liền.

Annie hỏi:

–         Việc gì mà ta không thể giải thoát cho Francois và Claude được? Chúng ta chỉ cần xuống hầm và mở cửa ra thôi chứ gì?

Mick buồn rầu nói:

–         Thế còn nói chuyện gì? Em thử nhìn coi…

Annie nhìn theo phía Mick chỉ. Nó thấy là hai tên cướp đã bịt cửa cầu thang xuống hầm bằng những tảng đá rất lớn và rất nặng. Phải cả hai người lớn tập trung sức lại mới có thể vần được những tảng đá to như vậy. Mick và Annie thì không hy vọng gì lay chuyển nổi những tảng đá ấy để lấy lối xuống. Thế là lối xuống đã bị tắc hoàn toàn.

Mick nói:

–         Như vậy là không thể xuống bằng cầu thang đá nữa rồi. Bọn chúng đã tìm cách ngăn trở chúng ta. Thế mới gay đấy. Mà mình cũng chẳng biết cái cửa thứ hai xuống hầm ngầm ở chỗ nào nữa, chỉ mang máng là ở gần chỗ cái tháp có nhiều quạ đậu.

–         Thì chúng ta cứ thử tìm xem – Annie nói một cách hăng hái.

Hai anh em đi về phía cái tháp ở bên phải, nhưng rồi chúng cũng phải nhanh chóng công nhận rằng cái cửa ấy nếu có đi chăng nữa thì cũng đã mất từ đời nảo đời nào rồi. Ở chỗ đó, toà lâu đài bị đổ nát hoàn toàn và trên mặt đất, xung quanh chỗ tổ quạ, có rất nhiều tảng đá to không thể nào lay chuyển được. Hai đứa trẻ đành phải bỏ dở cuộc tìm kiếm.

–         Bực thật! – Mick nói – Cứ nghĩ rằng Francois và Claude đang bị giam giữ trong hầm ngầm mà không làm cách nào giải thoát cho họ được thì tức thật!… Annie, em nghĩ xem có cách nào khác không?

Annie ngồi lên trên một hòn đá và suy nghĩ rất dữ. Bỗng dưng mặt cô có vẻ rạng rỡ lên và quay lại Mick, cô nói:

–         Anh Mick này, thử xem… Anh thấy ta có thể theo con đường giếng trèo sâu xuống dưới được không? Cái giếng này đi qua các hầm “bỏ quên”… và ta đã thấy nó có một lỗ hổng có thể chui ra chỗ hầm ngầm được. Anh có nhớ không? Chúng mình đã chả chui đầu qua cái lỗ ấy và nhìn lên trên này thấy ánh sáng mặt trời đó sao? Có thể chúng mình lách qua giữa hòn đá che mất một phần miệng giếng và thành giếng để trèo xuống bên dưới. Ta thử xem có được không, anh thấy sao?

Mick hiểu rất rõ Annie muốn nói gì, cậu lại gần giếng và nhìn xuống bên dưới một lúc rồi trả lời:

–         Anh nghĩ rằng em nói có lý đấy, Annie ạ. Chúng ta không ai quá to lớn, có thể lách qua hòn đá và trèo xuống bên dưới. Nhưng anh không hiểu những bậc thang sắt này xuống sâu đến chừng nào thì hết.

Annie cương quyết:

–         Đến đâu mặc nó, ta cứ thử xem. Chỉ còn cách ấy mới giải thoát được Francois và Claude mà thôi.

Mick đồng ý:

–         Được rồi, anh sẽ thử. Còn em, Annie, em không đi theo anh được. Anh không muốn em lộn cổ xuống tận đáy giếng. Anh sẽ xuống một mình. Những bậc thang có thể hết ở giữa chừng… cái gì mà chẳng có thể xảy ra được. Em phải ở trên này đợi và giúp đỡ anh nếu cần. Anh sẽ thử xem có làm được cái gì không?

Annie lo lắng:

–         Anh phải cẩn thận hết sức đấy, em van anh. Anh nên mang theo một sợi dây thừng. Như vậy, nếu cần đến dây thì anh không phải trèo lên nữa.

–         Ý kiến hay đấy!

Mick đi về phía gian phòng và lấy một sợi dây. Nó cuốn dây quanh mình để khỏi vướng tay, rồi quay lại chỗ Annie:

–         Anh chuẩn bị xong rồi đây. Nào bắt đầu xuống! Em đừng lo gì cho anh. Mọi việc sẽ suôn sẻ cả.

Annie sợ xanh mặt. Cô chỉ sợ Mick ngã lăn xuống đáy giếng. Mick trèo xuống các bậc thang sắt cho tới hòn đá chắn ngang. Đến đó, cậu thu mình lại cho thật nhỏ để lách qua giữa hòn đá và thành giếng. Không dễ lắm, nhưng cuối cùng cũng qua được và từ lúc đó Annie không trông thấy Mick nữa, tuy vẫn nghe thấy tiếng nói:

–         Những bậc thang vẫn còn ở dưới hòn đá, Annie ạ. Mọi việc đều ổn cả. Em có nghe tiếng anh không?

Annie cúi xuống thành giếng và trả lời, tiếng nói nghe ồm ồm rất lạ tai:

–         Có! Cẩn thận đấy nhé, anh Mick! Em mong là thang sẽ còn xuống thấp nữa!

–         Vẫn ổn cả! – Mick lại gào to để trả lời. Nhưng rồi nó bỗng kêu lên một tiếng bực bội – Khỉ thật! Đến đây là hết thang, y như thể nó bị gãy đột ngột vậy! Hay là nó chỉ xuống đến đây chứ chưa bao giờ dài hơn nữa? Bây giờ mình phải dùng đến dây thừng rồi.

Một lúc im lặng. Mick đang cởi sợi dây thừng cuốn quanh mình. Cởi xong, cậu buộc một đầu vào nấc thang gần sát cuối, xem ra có vẻ vững chắc hơn cả. Cậu kêu to lên với Annie:

–         Bây giờ, anh bắt đầu xuống bằng dây đây. Em đừng sợ gì cả. Mọi việc vẫn ổn cả!

Bắt đầu từ lúc này, Annie thôi không còn hiểu Mick nói gì nữa, bởi vì giếng sâu và lại có hòn đá to chắn ngang, nên lời nói lên đến nơi đã bị biến dạng đi, không nghe rõ nữa. Tuy nhiên, cô bé vẫn sung sướng nghe thấy tiếng anh nói, cái đó chứng tỏ Mick vẫn được yên ổn. Thỉnh thoảng, cô cũng nói mấy câu để động viên anh, hy vọng Mick nghe thấy.

Mick tiếp tục tụt xuống bằng sợi dây. Cậu bám vào dây bằng hai tay, hai chân và đầu gối. May làm sao cậu ta vốn là tay giỏi về môn thể dục; ở trường, bao giờ cũng đứng thứ nhất.

Tụt được một lúc, cậu tự hỏi không biết đá đến ngang hầm ngầm chưa. Tụt xuống cũng khá lâu rồi còn gì. Cậu lấy đèn pin trong túi ra, bật lên, rồi ngậm vào giữa hai hàm răng, làm như vậy để cho hai tay được rỗi rãi. Cậu chuyển mình đẩy cho cái dây xoay một vòng, và như vậy đèn soi được một vòng quanh thành giếng. Nhưng Mick vẫn không xác định được mình ở trên hay ở dưới cái lỗ hổng thông từ giếng ra con đường hầm, mà cậu ta không có ý định tụt mãi cho xuống tận đáy giếng.

Sau một phút suy nghĩ, cậu cho rằng mình chỉ vừa mới đi qua chỗ đó được tí thôi. Cậu trèo trở lên một chút và nhẹ người khi thấy mình đã nghĩ đúng. Cái lỗ hổng ở ngay phía trên đầu. Cậu trèo lên thêm và đung đưa sợi dây để đến gần cái lỗ hổng; chỉ một lúc sau cậu đã ngoặc chân được vào đó và tìm cách chui qua.

May mà Mick cũng không to lớn lắm, nên tuy có khó khăn, cuối cùng cũng thành công. Vẫn bám vào cái dây, Mick uốn người một chặp thì chui được. Cậu đã đứng trong đường hầm, thở hổn hển nhưng thắng lợi.

Bây giờ, cậu chỉ cần theo các dấu phấn trên đường để đi đến hầm vàng; ở đó chắc chắn là Francois và Claude đang bị cầm tù.

Cậu bật đèn và soi lên tường. Tốt quá, các mũi tên trắng không bị những kẻ kia xoá đi. Thế là may rồi!… Trước khi đi, Mick thò đầu qua lỗ hổng và gọi em:

–         Annie, xong rồi, anh đã ở trong đường hầm. Em hãy theo dõi xem lúc nào bọn kia trở lại.

Nói xong, cậu đi theo các mũi tên chỉ đường. Tim cậu đập thình thịch. Một lúc sau, cậu đi đến trước cái cửa có khoá và những hàng đinh to. Đúng như cậu nghĩ, cửa này hiện đang đóng chặt để giam Francois và Claude. Bên trên và bên dưới cửa lại có hai cái chốt to tướng, làm cho hai kẻ bị nhốt không tài nào tự mình thoát khỏi nhà tù được.

Trông thấy hai cái chốt cửa, Mick rất ngạc nhiên. Tất nhiên không phải bọn cướp biết rằng chúng sẽ phải dùng đến mà mang theo. Vả lại, hai cái chốt cửa trông gỉ ngoèn gỉ ngoẹt, Mick đoán là đã có ở đấy từ lâu, nhưng lúc bọn trẻ mở cửa để vào thì hai cái chốt này không cài. Có lẽ vì vậy mà bọn chúng không để ý đến.

Chỉ cần khoá cửa cũng đủ bảo vệ kho vàng. Hai cái chốt cửa có lẽ được dùng từ ngày xửa ngày xưa, chứng tỏ hầm ngầm đã được dùng để nhốt tù nhân. Bây giờ nó cũng lại đang nhốt tù nhân nữa.

Hai tù nhân trong đó đã dùng hết sức để xô cánh cửa, nhưng chẳng ăn thua gì cả. Bây giờ, chúng đang ngồi trong gian phòng chứa đầy vàng, hết hơi hết sức và rất tức giận. Cái tên nhốt chúng đã quay lại, mang xuống cho chúng các thức ăn uống, nhưng chúng không hề đụng đến. Dagobert cũng nằm cạnh đấy, đầu đặt trên hai chân duỗi dài, hơi giận Claude vì Claude không cho phép nó được nhảy lên cắn cổ những kẻ kia, mà nó thì muốn thế quá đi mất. Nó không thể biết rằng Claude làm thế để cứu nó; nếu nó tấn công bọn cướp, chắc chắn bọn này sẽ bắn nó chết ngay.

Claude bỗng nói:

–         Tuy vậy, mình cũng rất mừng vì Mick và Annie đã đủ tinh khôn mà không xuống đây để cùng bị cầm tù với chúng ta. Có lẽ hai đứa cũng nghĩ rằng ở đây đang có cái gì không ổn xảy ra khi thấy mình ký tên là Claudine chứ không phải Claude. Không biết bây giờ hai đứa đang làm gì? Có lẽ chúng đang trốn, không cho bọn kia tìm thấy…

Bỗng Dagobert hộc lên một tiếng làm cho Claude dưng lại. Con chó đứng vùng dậy và đi ra phía cửa, vừa đi vừa nghiêng đầu nghe ngóng. Chắc chắn là nó có nghe thấy một tiếng động gì đó.

Claude rên rỉ:

–         Mình mong là chưa phải bọn chúng đã quay trở lại.

Nó lấy đèn pin soi vào Dagobert, và ngạc nhiên thấy con chó đang vui vẻ vẫy đuôi rối rít. Một tiếng động mạnh vào cửa làm cho hai đứa đứng bật dậy. Và lúc đó, y như một hồi kèn thắng trận, tiếng Mick vang lên:

–         Ơi Claude! Ơi Francois! Các cậu có ở đấy không?

–         Oa! – Dagobert trả lời, lấy chân gãi cửa sồn sột.

–         Mick! Mở cửa cho anh nhanh lên! – Francois gào lên sung sướng.

Chương 16 – Claude trả thù

Mick vội vàng kéo chốt và mở rộng hai cánh cửa. Rồi chú bé nhảy bổ vào trong phòng, vừa đập tay chan chát vào lưng Claude và Francois những cái đập nảy lửa, tỏ ra vui mừng không xiết kể, vừa hỏi:

–         Thế nào, hai bạn được giải phóng có thích không?

–         Còn phải nói! – Francois vừa cười vừa nói, trong khi đó Dagobert nhảy cỡn lên, chạy vòng quanh, sủa loạn xạ, như điên.

Claude mỉm cười nói với Mick:

–         Cậu khá đấy! Nào kể lại xem câu chuyện đã diễn ra như thế nào!

Mick bèn kể lại những chuyện đã xảy ra cho mình và Annie. Khi kể đến đoạn cậu trèo xuống giếng thì hai đứa kia nhìn cậu, mắt tròn xoe. Chúng không thể tưởng tượng nổi. Francois ôm chặt lấy em vào lòng, cảm động:

–         Em thật là cừ! Giỏi thật đấy! Nhưng bây giờ, chúng ta cần hành động ngay. Thế nào, ta làm gì bây giờ?

Claude nói:

–         Có gì đâu! Nếu bọn kia đã để lại ca-nô cho chúng ta thì tớ sẽ đưa các cậu về đất liền thật nhanh. Đối với loại người cứ dí súng vào mặt mình thì không đùa được đâu! Nào đi! Chúng ta sẽ lên bằng đường giếng và ra lấy ca-nô.

Ba đứa chạy vội ra phía cái giếng. Chúng khơi cho cái lỗ rộng thêm ra bằng cách gỡ thêm mấy viên gạch, rồi lần lượt chui qua. Chúng trèo lên bằng dây, rồi bằng cái thang sắt. Francois vốn cẩn thận, sợ dây không đủ sức mang ba người một lúc, bàn rằng nên lên từng người một. Claude lên trước, rồi đến Mick, sau cùng đến Francois. Chỉ có đưa con Dago lên là khó. Mick lại phải leo trở xuống, buộc cậu chàng vào sợi dây rồi cả bọn hè nhau lôi nó lên khá vất vả.

Thế là tất cả lại được ở trên mặt đất. Mọi người hôm Annie, cô bé mừng quá vừa cười vừa khóc.

Khi những vui mừng nồng nhiệt đã dịu dần đi, Claude tuyên bố:

–         Không thể mất thì giờ nữa! Ra ca-nô mau! Bọn cướp có thể trở lại bất thần lúc nào không biết!

Cả bốn, có con Dago chạy bén gót theo sau, bổ cả ra bến đỗ. Quả nhiên ca-nô còn đấy, đúng ngay chỗ chúng vẫn buộc để tránh sóng. Nhưng mà bực mình biết bao!

–         Bọn chúng mang hết bơi chèo đi rồi! – Claude kêu lên hoảng hốt – Thật là đồ dã man! Chúng biết rằng ca-nô của ta không có bơi chèo thì vô dụng. Chắc bọn chúng sợ Mick và Annie tẩu thoát nên đáng lẽ kéo theo ca-nô của ta đi thì chúng chỉ cần lấy bơi chèo thôi. Chúng mình giờ mới gay đấy! Không có cách nào rời khỏi chốn này! Chúng ta bắt buộc phải ở lại trên đảo!

Tất cả bọn trẻ đều thấy thất vọng vô cùng. Đứa nào cũng tức muốn khóc. Sau khi giải thoát Francois và Claude một cách tài tình như thế, chúng đã tưởng rằng sau đây mọi việc sẽ yên ổn cả. Thế mà bây giờ sự việc lại càng rối rắm hơn bao giờ hết.

Francois ngồi lên một tảng đá, từ đó cậu có thể quan sát ngoài biển, và nói:

–         Chúng ta phải suy nghĩ về hoàn cảnh này. Bọn cướp đã đi, chắc là để thuê một chiếc tàu, chở vàng và chạy trốn. Có lẽ chúng cũng chưa trở lại ngay đâu. Bởi thuê một cái tàu đâu phải đơn giản như mua một chiếc kem.

Claude lắc đầu một cách chán nản:

–         Dù chúng có vắng lâu, điều đó cũng chẳng giúp ích gì được cho chúng ta, trong khi ta không thể rời khỏi đảo vì không có bơi chèo. Chúng ta cũng chẳng hy vọng vẫy được một cái tàu đánh cá, bởi từ giờ cho đến chiều chẳng có cái nào đi qua đây đâu. Có lẽ chúng ta chẳng còn cách nào khác là đợi bọn cướp về và đứng nhìn chúng cướp hết vàng của ta!

Francois bỗng nói chậm rãi:

–         Khoan! Khoan… Trong đầu mình vừa có một ý thoáng qua… Hãy đợi một chút… Đừng ai nói gì với mình… Để mình nghĩ đã…

Ba đứa trẻ im lặng chờ đợi, trong khi Francois ngồi im suy nghĩ, lông mày cau lại. Một lúc sau, nó ngẩng đầu lên, nhìn các em, mỉm cười:

–         Mình nghĩ rằng ý kiến của mình cũng không đến nỗi tồi. Thế này nhé! Chúng ta sẽ đợi bọn cướp trở về. Chúng nó sẽ làm gì nào? Trước hết chúng phải vần hết những tảng đá đang bịt lối xuống hầm rồi sẽ xuống tất cả. Chúng sẽ đi thẳng tới hầm giam chúng ta, tưởng rằng ta vẫn bị giam ở đó, rồi thì chúng vào. Vậy thì ý kiến của mình thế này… Các cậu thấy có nên là một người trong bọn ta nấp sẵn dưới đó, chờ bọn chúng vào hết thì đóng cửa lại, gài chốt, nhốt chúng ở trong đó không? Lúc đó, chúng ta có thể rời khỏi đảo, hoặc bằng ca-nô máy của chúng, hoặc bằng ca-nô của ta, sau khi lấy lại được bơi chèo. Sau đó chỉ có việc đi báo cảnh sát nữa mà thôi.

Annie thấy ý kiến của Francois không chê vào đâu được. Nhưng Mick và Claude thì ít phấn khởi hơn. Claude là người đầu tiên nêu ra một khó khăn:

–         Thế thì bây giờ chúng ta phải trở xuống gài lại chốt cửa bên ngoài để cho bọn nó tưởng là chúng ta vẫn còn bị giam trong đó. Và phải tính rằng người định nhốt chúng có thể không thành công, mình có cảm tưởng khó mà bẫy được chúng lắm. Phải rất là nhanh kia! Và nếu chúng ta thất bại, thì trước hết chúng sẽ tóm ngay người ở dưới đó rồi sẽ lên bắt tất cả ba người ở trên này.

–         Đúng vậy! – Francois công nhận – Vậy hãy xem lại xem sao. Bây giờ ta hãy tính những khả năng xấu nhất. Nói ví dụ như Mick, hãy cứ cho là Mick sẽ là người trèo xuống, đã không thành công trong việc nhốt những tên cướp; cứ cho là chúng sẽ lên được hết bên trên. Vậy thì, trong khi chúng còn ở dưới đó, chúng ta cũng sẽ vần những hòn đá tảng bịt chặt miệng đường xuống thang, như chúng vừa làm hồi nãy đó. Như vậy thì chúng không lên được nữa.

Annie hỏi:

–         Trường hợp đó, thì Mick làm thế nào?

–         Anh có thể lên bằng con đường giếng được – Mick trả lời khẳng khái – Đúng thế, để cho em xuống và nấp dưới đó, anh Francois ạ. Em sẽ cố gắng hết sức để nhốt những kẻ đó trong gian phòng chứa vàng. Nếu cần lên, em sẽ lên bằng con đường giếng. Bọn cướp không biết là có con đường này. Như vậy, nếu chúng không bị giam trong gian phòng, thì chúng cũng bị giam trong đường hầm.

Bọn trẻ tiếp tục bàn bạc một lúc nữa về phương án của Francois đã có sửa đổi đôi chút và cuối cùng kết luận rằng cách đó tốt nhất.

–         Bây giờ – Claude nói – tôi đề nghị chúng ta đi ăn để lấy lại sức. Không nên để bụng đói.

Đứa nào cũng đói meo và bây giờ, khi những xúc động đã qua đi và chúng đã quyết định một vấn đề rõ ràng, thì cuộc sống tự nhiên lại trở lại, và chúng thấy đói. Chúng liền về phòng lấy thức ăn đem ra ngay gần bãi biển, mắt nhìn ra cửa vịnh, rình chờ bọn kia trở về. Sau độ hai giờ, chúng thấy một cái tàu khá to, loại tàu đánh cá đang đi về phía đảo. Và đồng thời chúng cũng nghe thấy tiếng “xạch xạch” của một chiếc ca-nô máy.

Francois xúc động đứng bật dậy:

–         Bọn chúng đã về kia rồi! Cái tàu kia chắc chúng thuê để chở vàng sang nước Anh hoặc đi đâu đó… Chiếc ca-nô máy theo sát chiếc tàu. Mình đã trông thấy hai thằng lúc nãy. Nhanh lên, Mick, em trèo xuống giếng đi, xuống gài hai cái chốt lại và nấp ở dưới đó cho đến khi chúng mở cửa hầm.

Mick chạy đi như tên bắn. Francois quay lại hai cô gái:

–         Chúng mình cũng phải trốn đi! Bây giờ thuỷ triều đã xuống, ta có thể trốn ngay trên bãi biển, sau những mỏm đá. Mình nghĩ rằng bọn người này sẽ không đi tìm Mick và Annie đâu, nhưng cũng chẳng biết đâu mà lường… Cứ cẩn thận là hơn hết. Nào, nhanh lên!

Cả ba nấp sau những hòn đá và nghe thấy tiếng ca-nô máy cập bến. Nghe thấy cả tiếng nói của mấy tên kia.

Claude nói:

–         Hình như không phải chỉ hai tên cướp kia trở về. Bây giờ chúng có những ba tên.

Trong lúc đó, bọn kia đã lên bờ và đi theo con đường nhỏ về phía toà lâu đài. Francois bò nấp sau dãy đá và theo dõi ba cái bóng đang đi. Nhất định bọn kia sẽ bỏ những tảng đá chúng đã dùng để bịt miệng cầu thang cho Annie và Mick không xuống giải thoát các tù nhân được.

Bọn trẻ hết sức cẩn thận theo dõi từ xa. Khi chúng lên đến trên vách đá, thì những kẻ kia đã biến mất theo cầu thang dẫn xuống đường hầm.

Francois nói:

–         Bây giờ đến lượt chúng mình ra tay. Nào bắt đầu!

Ba anh em cố hết sức lôi những hòn đá nặng nề về phía miệng hầm như cũ, nhưng cả ba đứa hợp sức lại vẫn không thể nào bằng sức những kẻ kia. Bọn chúng không thể vần nổi những tảng đá đó, đành chỉ vần mấy tảng đá bé hơn, hy vọng là từ bên dưới, bọn người kia không lay chuyển được những tảng ấy.

–         Miễn là Mick nhốt được họ trong hầm! – Francois quay lại bảo hai cô em – Bây giờ, chúng mình ra chờ ở cạnh cái giếng, bởi vì Mick phải lên từ đó chứ lối lên kia đã bít rồi.

Cả ba đi ra phía cái giếng. Mick đã bỏ hẳn cái nắp ra, đặt nằm ngay trên mặt đất. Bọn trẻ cúi nhìn xuống dưới giếng, không phải là không lo lắng, Mick hiện đang làm gì? Từ dưới giếng, không có tiếng động nào đưa lên cả, chúng rất muốn biết ở dưới đương xảy ra chuyện gì.

Chuyện gì mà chẳng có thể xảy ra được!… Và đúng như thế, các đường hầm của lâu đài Kernach đang chứng kiến những sự việc kỳ lạ… Ba kẻ kia đi xuống hầm chắc mẩm vẫn thấy Francois, Claude và con chó bị giam trong hầm chứa vàng. Bọn chúng đi qua bên cái cột giếng, không ngờ có một cậu bé đang hồi hộp trốn ở đó, đợi chúng đi qua rồi luồn sau chúng.

Mick cũng không để phí thì giờ. Bọn kia vừa đi qua là cậu theo ngay sau bén gót. Chân cậu đi dép cao su, nên không gây tiếng động trên nền đất sỏi đá. Trước mắt cậu, cậu nhìn thấy ánh đèn pin từ tay những kẻ kia chiếu ra, nên không sợ bị mất hút chúng.

Cái đám diễu hành nhỏ ấy cứ như thế mà đi dọc các hành lang tối tăm và ẩm ướt, qua trước mặt nhiều gian hầm giam tăm tối… Cuối cùng bọn chúng tới một hành lang rộng hơn và dừng lại trước cánh cửa hầm vàng.

Một người trong bọn soi đèn lên cánh cửa và nói:

–         Ở đây đây! Trong hầm này có vàng và hai tên tù đấy!

Nói xong, hắn lấy tay kéo hai cái chốt ở trên và ở dưới cửa… Mick mừng thầm trong bụng vì đã kịp thời đóng lại như cũ trước khi bọn chúng tới. Nếu không, tất nhiên bọn họ sẽ đoán biết Claude và Francois đã trốn mất và sẽ đề phòng. Còn như bây giờ thì…

Người kia mở cửa hầm và bước vào bên trong. Một người nữa đi theo. Mick rón rén lại thật gần, đợi cho người thứ ba cũng vào nốt, thì nó sẽ nhảy đến và đóng sập cửa sau lưng chúng.

Người bước vào trước đưa đèn soi một vòng quanh hầm và thốt lên một tiếng kêu ngạc nhiên:

–         Bọn tù trốn mất rồi! Lạ thật! Chúng đi đằng nào vậy?

Cả hai người đã bước vào trong phòng và người thứ ba thấy kêu như vậy nên tò mò cũng vào nốt. Nhanh như chớp, Mick xồ lại đóng cửa vào. Cửa đóng rầm một cái, vang động khắp các hành lang và các hầm chung quanh. Mick lấy tay sờ soạng các chốt cửa. Bây giờ thì không có ánh sánh để soi cho nó nữa, đồng thời tay nó lại run ghê quá. Cuối cùng nó sờ được vào một cái chốt. Nhưng cái chốt này đã gỉ và kẹt cứng đẩy vào rất khó. Cậu bé cài rất khó khăn, trong khi đó, có phải những người kia để yên cho nó cài đâu!

Nghe thấy tiếng cánh cửa đóng rầm một cái sau lưng, họ nhất loạt quay cả lại. Sau một thoáng sững sờ, người vào sau cùng lấy vai tì vào cánh cửa và đẩy ra thật mạnh. Mick vừa kịp cài xong một cái chốt. Nhưng cả ba người hợp sức lại cùng đẩy cánh cửa… và cái chốt bung ra!

Trong một giây, Mick đứng sững, sợ hết vía. Cửa đã mở toang! Mick hoảng hốt quay lưng và lấy hết sức chạy thật nhanh dọc đường hành lang tối om. Những kẻ kia cùng chiếu đèn vào nó và nó hiện ra rõ mồn một trong luồng ánh sáng. Bọn người kia lập tức đuổi theo.

Mick chạy thẳng ra cái giếng. May phúc làm sao, cái lỗ hổng có thể chui qua được lại ở bên kia phía hành lang. Vì vậy, lợi dụng lúc bọn kia chưa tới, cậu bé đã chui được qua khe hở nhờ có ánh sáng le lói của mấy cái đèn. Cậu vừa chui qua thì bọn người kia cũng vừa chạy tới nơi. Không một gã nào ngờ rằng kẻ chạy trốn đang ở gần chúng như thế. Chúng chạy qua bên cái ống xây, mà không biết rằng đó là cái giếng.

Mick run lẩy bẩy từ đầu đến chân, nhưng cũng cố leo lên bằng sợi dây vẫn buộc vào nấc gần cuối của cái thang sắt. Khi đã trèo được lên những bậc thang sắt, cậu cẩn thận tháo dây ra, đề phòng bọn kia phát hiện ra cái giếng và có muốn trèo lên theo đường giếng cũng không được. Không có dây thì không tài nào trèo lên được.

Mick trèo các bậc thang hết sức nhanh và sau khi lách qua giữa thành giếng và hòn đá, cậu lên mặt đất. Bọn trẻ đang đợi cậu ở đấy.

Chỉ trông thấy mặt Mick, bọn trẻ cũng biết ngay là cậu đã không thành công. Mick vừa thở hổn hển vừa nói:

–         Mình đã không gặp may. Mình không làm thế nào nhốt chúng ở trong hầm được. Đúng ra là mình vừa mới cài được một cái chốt thì chúng đã đẩy tung cửa ra và đuổi theo mình. Mình chỉ kịp chui qua lỗ giếng thôi.

Annie kêu lên:

–         Và bây giờ thì bọn chúng sẽ lên bằng cửa cầu thang. Phải làm thế nào nhanh lên, nếu không bọn chúng sẽ bắt hết chúng mình mất!

Francois ra lệnh:

–         Ra ngay ca-nô! – Cầm tay Annie, cậu vừa chạy vừa kéo em theo – Phải nhanh lên mới được. Chúng ta chỉ còn có khả năng thoát duy nhất này thôi. Bọn chúng chẳng mấy chốc sẽ đẩy được mấy hòn đá chúng ta bịt miệng cầu thang đấy.

Cả bốn đứa chạy như bay qua cái sân. Trong khi chạy qua gian phòng để đồ đạc, Claude rẽ vào đó và, khi trở ra, cầm theo một cái búa. Mick không hiểu cô định dùng búa để làm gì. Con Dagobert thì chạy trước tất cả, vừa chạy vừa sủa như điên.

Bọn trẻ đã chạy xuống đến bãi biển. Ca-nô vẫn đấy, nhưng vẫn không có bơi chèo. Cái ca-nô máy của bọn kia cũng ở đó. Claude nhảy vào trong đó và kêu lên sung sướng:

–         Hay quá! Bơi chèo của chúng ta kia rồi! Francois cầm lấy, mang ngay sang ca-nô của ta và đẩy ca-nô xuống nước đi. Nhanh lên! Mình sẽ xuống ngay sau một phút thôi. Mình còn có việc phải làm ở đây.

Francois và Mick lấy các bơi chèo, rồi hai anh em đẩy ca-nô xuống nước, không hiểu vì sao Claude còn ở lại chưa xuống. Từ ca-nô máy vang lại những tiếng đập vỡ và tiếng kim loại loảng xoảng, nghe ầm ầm.

Francois bỗng kêu lên:

–         Claude! Claude! Xuống nhanh! Bọn kia đã ra khỏi hầm rồi! Nhanh lên!

Quả thật ba người kia đang chạy theo đường dốc đá xuống bãi biển. Claude nhảy ra khỏi chiếc ca-nô máy và chạy theo bọn trẻ. Mấy anh em đẩy ca-nô xa thêm ra biển rồi nhảy vào trong. Claude vơ ngay lấy bơi chèo và cố hết sức chèo nhanh xa bờ.

Ba tên kia cũng chạy ra chiếc ca-nô máy của chúng. Nhưng đến nơi, chúng hoảng hốt đứng sững lại… Claude đã làm cho chiếc ca-nô không còn dùng được nữa. Cô bé đã lấy búa đập vỡ tất cả những cái gì có thể đập được: cái mô tơ vỡ vụn ra từng mảnh còn các bơi chèo dự trữ để chèo tay khi máy hỏng cũng bị chặt cụt đến tận tay cầm, thành ra chẳng dùng làm gì được nữa. Bọn người này chẳng có trong tay một thứ dụng cụ gì để sửa chữa những cái hư hỏng tai hại đang bày ra trước mắt chúng. Chúng không hy vọng gì có thể tự mình rời hòn đảo ra đi!

Người có tên là Gút-ta giơ nắm đấm về phía Claude, hét lên:

–         Con nhóc quỷ sứ kia! Hãy đợi đấy, tao mà bắt được mày thì mày sẽ biết tay tao!

Claude quay lại nhìn hắn, trong đôi mắt xanh của cô loé lên một tia giễu cợt:

–         Có các ông phải chờ đợi thì có! Tôi không hiểu các ông sẽ làm thế nào rời khỏi hòn đảo của tôi được? Hãy đợi đấy! Chúng tôi sẽ trở lại!

 

Chương 17 – Thắng lợi cuối cùng

 

Ba tên kia đứng lại trên bãi biển, nhìn theo Claude đi xa dần bằng những nhát chèo khoẻ. Chúng không làm gì khác được. Ca-nô của chúng hoàn toàn bị phá hỏng, không dùng được nữa.

Khi bọn trẻ đã ra khỏi cái bến cảng nhỏ và đã vòng qua những mỏm đá che chở cho bến này, Claude hất cằm chỉ một cái tàu đánh cá đang bỏ neo gần đó. Cô nói mà không ngừng tay chèo:

–         Nhìn kìa, chắc đó là cái tàu mà bọn cướp đã thuê để chở vàng đi đấy! Nó quá to nên không vào trong bến được. Bọn cướp muốn đi khỏi đảo thì phải có một tên đồng bọn đến đón bằng thuyền nhỏ.

Khi bọn trẻ đi qua cái tàu đánh cá, một thuỷ thủ có vẻ chỉ có một mình trên tàu, gọi chúng nó:

–         Ô ê! Này đằng ấy ơi! Các cháu từ đảo Kernach ra đấy à?

Claude ra lệnh:

–         Không được trả lời! Không nói gì hết!

Ba đứa kia nghe lời im lặng và Claude cũng vậy. Dường như chúng không nghe thấy gì cả.

Người thuỷ thủ lại gọi to lên, có vẻ tức giận:

–         Ô ê! Này đằng ấy ơi! Chúng bay điếc hay sao vậy? Tao hỏi có phải chúng bay ở đảo Kernach ra không?

Bọn trẻ vẫn không trả lời. Chúng nhìn theo hướng khác với cái tàu đánh cá. Dường như chúng không nhìn thấy nó nữa ấy. Claude vẫn tiếp tục chèo thật khoẻ.

Người thuỷ thủ thôi không gọi chúng nữa. Lông mày cau lại, anh ta nhìn hòn đảo một cách băn khoăn. Anh ta chợt thấy lo lắng. Anh ta chắc chắn là bọn trẻ vừa từ đảo ra, và bởi cũng đã hơi nghi là bọn người thuê tàu anh định làm việc gì mờ ám, nên anh ta tự hỏi không hiểu bọn trẻ này có chơi xỏ những người kia vố nào không. Có lẽ anh ta nen vào đảo để xem có chuyện gì xảy ra chăng? Bởi người ta đã hứa trả cho anh ta một món tiền lớn và anh ta cũng ham được món tiền đó.

Claude cũng đoán ra phần nào ý nghĩ của anh ta. Cô nói:

–         Khi anh ta thấy bọn kia không trở lại tàu, có thể anh ta sẽ thả một cái thuyền nhỏ xuống nước và đi ra xem có chuyện gì xảy ra. Chúng mình không thể ngăn trở việc đó được. Tuy nhiên, mình không tin rằng bọn cướp kia dám lấy vàng mang đi bây giờ, khi chúng ta đã được tự do và chúng ta sẽ kể hết mọi chuyện cho bố mình nghe.

Mick thì tràn trề hy vọng:

–         Giả dụ anh thuỷ thủ này có đi cứu bọn kia thì cũng mãi sau này kia, khi chúng ta đã báo cho cảnh sát biết.

–         Mình cũng mong thế – Claude nói – Mình cố sức chèo cho thật nhanh đây.

Một lúc sau, ca-nô của bọn trẻ cập bến đất liền. Bốn đứa nhảy ào xuống các con sóng nhỏ đang liếm bờ cát và vội vàng kéo ca-nô lên bờ, Dagobert cũng tích cực giúp vào việc đó, vừa làm vừa vẫy đuôi rối rít. Con vật đáng yêu rất thích tham gia vào tất cả các việc bọn trẻ làm.

Mick hỏi Claude:

–         Bây giờ, cậu có mang Dagobert giao cho Jean Jack không?

–         Không, không có thì giờ! Chúng mình phải về nhanh để kể lại những việc xảy ra trên đảo. Mình chỉ đem con Dago về buộc vào cánh cửa vườn thôi.

Bọn trẻ vội vàng chạy về biệt thự Hải Âu. Chúng thấy mợ Cécile đang làm vườn. Mợ ngạc nhiên nhìn bọn trẻ mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Mợ nói:

–         Thế nào các con đã về đấy à? Mợ chắc các con phải đến mai hay ngày kia mới về! Có chuyện gì xảy ra vậy? Trời ơi! Mick… Má cháu sao chảy máu thế?

Mick nói:

–         Thưa mợ, không có gì đâu ạ!

Những đứa kia tranh nhau nói:

–         Mợ Cécile, cậu Henri cháu đâu ạ? Chúng cháu có chuyện rất quan trọng muốn nói với cậu.

–         Mẹ ơi, mẹ có biết chúng con vừa trải qua một chuyện như thế nào không hả mẹ?

–         Mợ Cécile, mợ không thể tưởng tượng nổi chuyện gì đã xảy ra với chúng cháu đâu!

Mợ Cécile càng ngày càng ngạc nhiên, lúc đó mới để ý đến quần áo của con gái và của các cháu đứa nào cũng bẩn và rách cả.

Mợ hỏi:

–         Chuyện gì đã xảy ra vậy?

Rồi quay lại phía nhà, mợ gọi:

–         Henri! Henri! Bọn trẻ có điều gì muốn nói với anh đây này!

Cậu Henri xuất hiện, vẻ mặt lầm lì khó chịu, bởi bị làm phiền trong lúc đang làm việc. Cậu hỏi cộc lốc:

–         Có việc gì vậy?

Francois vừa run vừa nói:

–         Thưa cậu, đó là về vấn đề hòn đảo Kernach! Người muốn mua nó thì chưa mua hẳn, có phải không ạ?

Ông cậu trả lời:

–         Cũng coi như là đã bán hòn đảo đó rồi. Cậu đã ký bán về phần cậu, còn cái ông Gút-ta gì gì ấy thì ngày mai sẽ đến ký phần mua. Nhưng cháu hỏi việc đó làm gì? Việc đó có liên quan gì đến cháu?

–         Thưa cậu, ông ta ngày mai sẽ không đến ký gì hết đâu ạ? Cậu có biết tại sao ông ta lại muốn mua toà lâu đài cùng với hòn đảo không? Không phải là để xây ở đấy một khách sạn như ông ta cố làm cho cậu tin, mà chính là vì ông ấy biết trong đảo có kho vàng giấu dưới đó.

Cậu Henri kêu lên:

–         Này cháu muốn nói đến những chuyện linh tinh gì với cậu vậy?

Claude phản đối ngay lập tức:

–         Không phải chuyện linh tinh đâu, bố ạ! Đó là sự thật trăm phần trăm. Trong chiếc hộp thiếc mà bố bán cho cái lão mua đồ cổ giả mạo ấy, có một cái bản đồ của toà lâu đài và trong bản đồ đó, cụ tổ của con đã chỉ rõ chỗ cất giấu những thoi vàng của cụ.

Bố Claude lúc đầu có vẻ ngạc nhiên, sau lại bực mình. Chính ra, ông không tin một lời nào bọn trẻ nói ra. Trái lại, mợ Cécile thì chỉ cần nhìn những bộ mặt nghiêm trang và căng thẳng của bọn trẻ cũng hiểu rằng đã có chuyện gì nghiêm trọng xảy ra thực sự.

Bỗng nhiên, trong lúc mọi người im lặng chờ đợi, thì Annie oà lên khóc ầm ĩ. Nó đã bị xúc động quá, vậy mà bây giờ về nói chuyện có thật với cậu thì cậu lại không tin, điều đó làm cho nó không thể chịu đựng nổi nữa. Nó vừa khóc vừa nói:

–         Mợ Cécile! Chúng cháu nói thực đấy! Cậu Henri không tin chúng cháu là không đúng đâu! Ôi, mợ Cécile ơi, cái người ấy có một cái súng… và nó đã nhốt Francois và Claude trong hầm “bỏ quên”… và Mick phải trèo xuống giếng để giải thoát cho hai người. Rồi Claude lại phá cái ca-nô máy của chúng nó bằng búa để cho chúng không đuổi theo chúng cháu được!

Không thể nào hiểu đầu đuôi câu chuyện qua lời kể đứt quãng của Annie, nhưng cậu Henri cũng bắt đầu nhận ra rằng trong những việc vừa xảy ra trên hòn đảo Kernach cũng có những vấn đề quan trọng đáng phải quan tâm. Ông kêu lên:

–         Claude đã phá hỏng một cái ca-nô máy à? Thật là tệ hại quá! Nào thôi, tất cả theo tôi vào trong phòng làm việc. Các cháu sẽ kể cho tôi nghe câu chuyện này từ đầu đến cuối, không bỏ sót một chi tiết nào. Từ nãy đến giờ, tôi chưa hiểu gì cả.

Mọi người trở vào trong nhà. Annie ngồi lên đùi mợ Cécile, nghe Claude và Francois kể lại đầu đuôi câu chuyện. Hai đứa nói rất rành mạch và không quên một chi tiết nào cả. Nghe bọn chúng kể, mợ Cécile sợ xanh mắt, nhất là khi nghe kể đến đoạn Mick thử trèo xuống dưới giếng một cách rất nguy hiểm. Mợ kêu lên:

–         Ôi! Mick! Ghê quá! Cháu có thể ngã chết mất! Cháu thật là can đảm quá chừng!

Cậu Henri thì cứ lặng yên nghe, không nói gì. Chính ra là ông ngạc nhiên vô cùng. Xưa nay, ông không yêu trẻ mấy và ông thấy chúng chẳng có nghĩa lý gì cả. Nhưng hôm nay, nghe Francois kể chuyện thì quan niệm của ông về trẻ con thay đổi hoàn toàn. Bốn đứa trẻ dũng cảm này làm cho ông thật khâm phục. Một lát sau, ông nói:

–         Các cháu đã tỏ ra rất khôn khéo và rất dũng cảm. Cậu rất hãnh diện về các cháu. Đúng là như vậy, rất hãnh diện. Bây giờ bố mới hiểu tại sao con cứ nhất định không muốn bố bán hòn đảo đó, Claude ạ. Con đã biết rằng dưới đất ở đó có vàng. Nhưng tại sao con không nói cho bố biết?

Bốn đứa trẻ chỉ nhìn ông, không nói gì. Chúng không dám bộc lộ hết lòng mình và nói sự thật rằng chúng sợ cậu chúng không tin chúng, và thực ra, chúng cũng hơi sợ ông.

Ông Henri lại gặng hỏi:

–         Thế nào? Sao không trả lời?

Bà vợ ông bèn trả lời thay cho bọn trẻ. Bà nói một giọng dịu dàng:

–         Anh Henri, em nghĩ rằng anh đã làm cho bọn trẻ sợ, anh có thấy thế không? Chính vì vậy mà chúng không dám nói thật với anh. Bây giờ chúng đã nói rồi, thì anh nên nắm lấy việc này. Claude và mấy anh em nó không thể tiếp tục đối đầu với những hạng người đó được. Anh phải báo ngay cho cảnh sát can thiệp. Không nên để mất thì giờ.

Cậu Henri đứng ngay dậy và nói:

–         Được rồi! – ông vỗ vào vai Francois thân mật – Chàng trai này khá đấy…- Rồi ông đưa tay xoa đầu Claude cho bù lên và nói thêm – Và bố rất tự hào về con, Claude ạ… Đúng thế, rất tự hào về con, con trai của bố ạ!

–         Ôi! Bố ơi! – Claude thốt lên, mặt đỏ bừng vì ngạc nhiên và vui mừng.

Cô mỉm cười với bố và bố cô cũng mỉm cười với cô. Vẻ mặt của cả hai bố con bừng sáng lên và thay đổi hẳn. Cả hai bố con lúc đó trông tươi tỉnh và đáng yêu biết bao! Cậu Henri và Claude thật là giống nhau như lột. Khi nào cả hai mang bộ mặt lầm lầm lì lì thì chẳng ai muốn nhìn, nhưng trái lại, khi họ cười thì trông đặc biệt đáng yêu.

Không để lâu hơn nữa, ông Henri gọi ngay điện thoại cho Sở cảnh sát rồi cho người quản lý tài sản của ông… Trong khi đó, mợ Cécile dọn cho bọn trẻ một bữa ăn nhẹ. Vừa ăn ngấu nghiến bánh quy và ăn mận, bọn trẻ kể tiếp cho mợ Cécile nghe những chi tiết tỉ mỉ và trước đó chưa kể hết.

Bỗng nhiên, trong lúc bọn trẻ đang ăn, thì ở ngoài vườn vang lên một tiếng sủa giận dữ. Claude đứng vùng dậy, nói với mẹ, hơi lo lắng:

–         Đó là Dagobert. Con không có thì giờ đưa nó đến gửi cho Jean Jack vẫn giữ nó hộ con. Nếu mà mẹ biết vừa rồi ở trên đảo, Dagobert đã giúp chúng con được bao nhiêu việc! Con xin mẹ tha thứ cho nó vì nó vừa mới sủa ầm lên, nhưng con cho là nó cũng đói lắm rồi.

Bà Cécile nói một cách tự nhiên, bất ngờ:

–         Thì con ra dắt nó vào đi! Con chó này nó cũng dũng cảm theo kiểu của nó đấy chứ!… Nó có quyền được ăn một bữa ngon.

Claude mỉm cười sung sướng; nó chạy ra với Dagobert, tháo dây ra và dắt nó vào nhà. Con chó vừa đi vừa nhảy vừa ngoáy cái đuôi dài tíu tít. Nó liếm tay mợ Cécile và vừa nhìn bà vừa vểnh đôi tai dài lên một cách rất ngộ.

Mẹ Claude vừa vuốt ve nó vừa nói:

–         Mày là một con tu-tu đáng yêu. Đợi đấy, tao sẽ làm cho mày một món ăn rõ ngon.

Dagobert hiểu bà muốn nói gì, liền đi theo bà vào bếp. Francois cười nói với Claude:

–         Đấy cậu xem, mẹ cậu tốt thế kia mà!

Claude vẫn có vẻ lo lắng:

–         Ừ… nhưng mình vẫn chưa rõ bố mình sẽ nói sao khi lại thấy con Dagobert ở trong nhà.

Ông Henri trở vào, nét mặt nghiêm trang:

–         Sở cảnh sát rất chú ý đến vấn đề này, cả người quản lý tài sản của nhà ta nữa. Tất cả mọi người đều thống nhất nhận định rằng bọn các cháu đã rất mưu trí và dũng cảm. Và Claude ạ, người quản lý tài sản của ta nói rằng tất cả các thoi vàng đó đều thuộc quyền sở hữu của mình, không ai phủ nhận được. Thế con thấy có nhiều không?

–         Có đến hàng trăm thoi ấy, bố ạ. Hàng trăm, thật đấy, con không nói ngoa đâu! Chúng xếp hàng đống ở trong góc gian hầm kia mà. Chúng ta sắp giàu, hả bố?

Bố nó trả lời:

–         Đúng thế, con ạ, không còn nghi ngờ gì nữa. Chúng ta sẽ đủ giàu để bố có thể mua cho mẹ con và con bao nhiêu thứ, đã nhiều năm nay bố mơ ước mà không mua được. Bố đã làm việc không mệt mỏi vì mẹ con và con… nhưng công việc bố làm không phải là loại làm cho ta giàu. Chính vì vậy mà bố hay cáu gắt, bực bội. Nhưng bây giờ thì con và mẹ con muốn gì sẽ có nấy.

Claude nói:

–         Con chả muốn có gì hơn những thé mà con đã có hiện nay. Nhưng có một điều, bố ạ, con rất muốn có một thứ mà bố có thể cho con ngay, không cần tốn đến một xu!

Ông Henri ôm lấy hai vai Claude. Cử chỉ âu yếm này làm cho cô bé ngạc nhiên và sung sướng. Ông nói:

–         Được rồi! Con hãy nói cho bố biết con muốn có cái gì, dù cho cái đó đắt đến đâu, chắc chắn con cũng sẽ có nó.

Đúng lúc bấy giờ, người ta nghe thấy tiếng chân chó đi dọc hành lang dẫn đến buồng ăn, trong đó ông Henri và bọn trẻ đang tụ tập. Một cái đầu lông xù thò qua cửa và một đôi mắt lanh lợi nhìn khắp mọi người trong phòng. Đó chính là Dagobert.

Ông Henri sửng sốt nhìn nó:

–         Ơ kìa, đúng là con Dagobert phải không?… Chào mày, Dago!

Claude ôm lấy tay bố nó, năn nỉ:

–         Bố ơi, con Dagobert là thứ mà con thích nhất trên đời. Bố không thể hiểu nổi khi chúng con đang bị tai nạn trên đảo, có nó đã làm cho chúng con yên tâm biết bao. Nó muốn nhảy xổ vào cắn bọn cướp để bảo vệ chúng con. Con chẳng muốn được thứ quà nào khác đâu, bố ạ. Con chỉ ao ước được giữ Dagobert ở bên cạnh con để chơi với nó. Ta có thể cho nó nằm trong một cái cũi ngoài vườn và con sẽ trông nó để nó khỏi làm phiền bố, con xin hứa với bố như vậy.

Ông Henri tuyên bố:

–         Thôi được, nếu con thích thì con giữ lại Dagobert.

Ngay lúc đó, hình như nó hiểu ông Henri vừa nói gì, con Dagobert đàng hoàng bước vào trong phòng, vẫy đuôi rối rít. Nó đi thẳng đến với bố của Claude và liếm tay ông. Annie nghĩ thầm rằng cái con vật này đúng thật là can đảm.

Nhưng ông Henri cũng không giống như trước nữa. Dường như trên vai ông mới cất đi được một gánh nặng. Bởi vì gia đình ông từ nay trở đi sẽ giàu có. Claude có thể được gửi vào học ở một trường tốt nhất, còn mợ Cécile thì có thể mua tất cả những gì mợ ao ước xưa nay. Thêm nữa, ông Henri có thể tiếp tục làm công việc ưa thích của mình mà không cần phải lo làm sao kiếm đủ nuôi gia đình nữa. Ông biết rằng việc tìm ra kho vàng sẽ thay đổi cơ bản đời sống của gia đình ông, nên ông sung sướng vô cùng, không còn giống tý nào cái ông bác học cắm cảu mà bọn trẻ thấy trước kia nữa.

Claude cũng vui sướng quá. Cô nhảy lên ôm lấy cổ bố và hôn tíu tít; đã lâu lắm cô chưa làm thế, khiến cho ông Henri cũng phải ngạc nhiên và sung sướng. Ông nói:

–         Thôi được rồi, có vẻ như mọi người đều bằng lòng cả rồi…

Có tiếng ô tô đỗ trước cửa, ông ngạc nhiên:

–         Sao? Cảnh sát đã đến rồi cơ à?

Đúng là xe Sở cảnh sát thật. Mấy viên cảnh sát bước vào, trao đổi với ông Henri vài lời. Rồi một người ở lại để ghi những lời khai của bọn trẻ, còn những người khác vội vã ra tàu để ra đảo Kernach.

Họ đến vừa kịp. Người chủ tàu đánh cá cuối cùng cũng quyết định phải ra đảo xem tại sao khách của mình mãi không trở lại. Vì anh ta chỉ có một mình trên tàu, nên việc thả cái thuyền con xuống biển cũng mất nhiều thời gian. Cảnh sát đến vừa đúng lúc anh ta chở ba thằng ăn cướp về tàu, sau khi đã đón chúng trên bãi biển. Bắt mấy thằng đó chẳng có gì khó khăn. Ngoài những lời khai của bọn trẻ, lại còn có một chứng cớ khác mà chúng không cãi được: chúng đã lấy mấy thoi vàng mang theo trước khi chạy trốn. Chính vì sự chậm chân đó mà chúng bị bắt, sau này ngồi trong tù tha hồ mà ngẫm nghĩ đến những hậu quả đáng buồn do lòng dạ bất lương của mình gây ra.

Mấy viên cảnh sát đến xem chiếc ca-nô máy bị Claude làm hỏng. Mọi người cười nói:

–         Cái con bé Claudine Dorsel này đáo để thật! Nó làm thế này thì khá quá còn gì. Chính nhờ nó mà bọn kẻ cướp phải chịu giam chân trên đảo. Bây giờ ta hãy kéo cái ca-nô về bến…

Trước khi rời đảo, cảnh sát xuống hầm ngầm niêm phong gian hầm có chứa các thoi vàng. Như vậy, không ai vào gian hầm này được và các thoi vàng sẽ được bảo vệ cho đến khi ông Henri đến mang chúng đi. Trong khi chờ đợi, bố Claude cũng được xem một thoi mẫu của kho vàng của mình: những người cảnh sát đã mang về cho ông mấy thoi vàng tìm thấy trong người bọn cướp.

Khi biết ba thằng cướp đã bị bắt, bọn trẻ ồn ào vui sướng: thế là kho vàng giữ được mà kẻ làm bậy đã bị trừng trị. Chỉ có điều bọn trẻ hơi thất vọng: chúng cứ tưởng rằng cảnh sát sẽ mang tất kho vàng về nhà cho chúng.

Claude và mấy anh em bây giờ mới thấm mệt. Cho nên, tối hôm đó, khi mợ Cécile bảo chúng phải đi ngủ sớm thì không đứa nào phản đối cả. Mợ bảo:

–         Mợ sẽ cho các cháu ăn trước cậu mợ, sau đó các cháu phải đi ngủ ngay. Một đêm ngủ ngon, mai dậy sẽ hết mệt ngay.

Bọn trẻ tập trung ở phòng cũ. Con Dagobert cũng ở đó. Nó sẵn sàng đớp những miếng ngon người ta vứt cho nó. Francois cố kìm một cái ngáp và nói:

–         Phải nói là chúng ta vừa trải qua một chuyện ly kỳ. Mình cũng hơi tiếc là nó đã kết thúc sớm quá… Thực ra chúng ta cũng đã qua những giờ phút đầy lo âu, nhất là khi Claude với mình bị giam trong hầm ngầm dưới đất.

Claude nhấm nháp bánh quy một cách thú vị; cô mỉm cười với Francois:

–         Thế mà lúc đầu mình cứ bực bội về việc các cậu đến đây nghỉ hè! Mình định làm mặt giận với các cậu, để cho các cậu chán mà đòi về nhà. Bây giờ thì nghĩ đến việc hết hè, các cậu lại đi mà mình đã thấy buồn. Lúc đó, mình sẽ nhớ các cậu biết bao! Sau khi đã có ba người bạn cùng chia sẻ với mình những cuộc phiêu lưu hồi hộp, mình sẽ lại cô đơn ghê lắm. Trước kia, có bao giờ mình cần có bạn! Nhưng mà bây giờ thì…

Mợ Cécile hiện ra ở phòng ăn:

–         Thôi, các con, đã đến lúc đi ngủ rồi. Trông Mick kìa, tội nghiệp chưa, buồn ngủ díp cả mắt lại! Mợ chắc là các cháu sẽ mơ thấy những giấc mơ đẹp, sau cuộc phiêu lưu kỳ lạ các cháu vừa trải qua.

Mợ đi cùng hai cô gái về phòng của chúng. Mợ bỗng nói:

–         Nào Claude, con xem có phải con Dagobert nó nằm dưới giường con kia không?

–         Đúng nó rồi, mẹ ạ – Claude trả lời, làm ra bộ ngạc nhiên – Này Dago, tao hỏi, tại sao mày lại chui vào đấy hả?

Dagobert bò ra khỏi chỗ nấp và đi thẳng đến chỗ mợ Cécile. Nó nằm xuống chân mợ và ngước đôi mắt cầu khẩn nhìn mợ. Bà Cécile bật cười:

–         Đêm nay mày lại muốn ngủ trong phòng này chứ gì? Thôi được, cho phép một lần thôi…

Claude sung sướng kêu lên:

–         Mẹ ơi, cám ơn mẹ! Ngàn lần cám ơn mẹ! Sao mẹ lại đoán ra được rằng đêm nay con không muốn xa Dagobert tí nào! Dagobert, mày có thể nằm xuống cái thảm ở chân giường tao!

Tối hôm đó, có bốn đứa trẻ sung sướng vào giường đi ngủ. Cuộc phiêu lưu kỳ lạ của chúng đã có một kết thúc tốt đẹp. Trước mặt chúng, những ngày hè còn dài… và cậu Henri, bây giờ lúc nào cũng tươi cười, không làm cho chúng sợ chết khiếp nữa. Hòn đảo và toà lâu đài tiếp tục là sở hữu của Claude. Tóm lại, không ai có gì đáng phải mơ ước hơn!

Annie đã díp mắt vào rồi vẫn nói:

–         Cậu chưa biết là mình mừng như thế nào khi thấy hòn đảo không bị bán. Mình rất thích nó vẫn là của cậu.

Claude trả lời:

–         Nó cũng thuộc về ba người nữa, bởi bây giờ nó không phải là của riêng mình, mà còn của cậu, của Francois và Mick. Mình đã phát hiện ra rằng có cái gì mà đem chia sẻ với người khác thì thật là thú vị. Ngay ngày mai, mình sẽ trịnh trọng chia cho mỗi cậu một phần tư hòn đảo của mình.

–         Ôi! Claude! Thế thì tuyệt quá! Hai anh mình chắc sẽ sướng lắm. Mình cũng rất…

Cô bé không có thì giờ nói nốt câu đó: cô đã ngủ tít rồi. Claude cũng ngủ tiếp ngay tức khắc… Trong phòng mình, hai đứa con trai cũng ngủ say, nằm mê thấy toàn thoi vàng, hầm “bỏ quên”, và đến một ngàn chuyện vui thú khác.

Chỉ có Dagobert là vẫn thức. Hai tai vểnh lên, nó nghe hơi thở đều đều của Annie và của Claude. Khi nó thấy hai cô đã ngủ say lắm rồi, nó rời khỏi tấm thảm chùi chân và thận trọng bước đến gần giường Claude… Đặt hai chân lên mép giường, nó ngửi cô bé đang ngủ say, rồi nó nhảy phắt lên giường, nó thở dài một cái khoan khoái và nhắm mắt lại. Chắc chắn là bọn trẻ đã rất sung sướng, nhưng có lẽ con Dagobert còn sung sướng hơn.

Claude chập chờn tỉnh dậy khi thấy con Claude trèo lên, nó lẩm bẩm:

–         Dago! Dago! Không nên thế! Nhưng mà mày cũng đáng yêu lắm kia… Này Dago, cả năm đứa chúng ta còn được chơi những trò rất là thú vị… rồi mày xem…

Đúng thế, cả năm bạn nhỏ này còn có những cuộc phiêu lưu hồi hộp khác nữa… Nhưng đó lại là chuyện khác mất rồi!

————————————————————————————

Ghi chú – Phiên âm tên riêng các nhân vật:

  1. François Gauthier = Phrăng-xoa Gô-chi-ê
  2. Mick Gauthier = Mích Gô-chi-ê
  3. Annie Gauthier = An-ni Gô-chi-ê
  4. Claude (Claudine) Dorsel = Clốt (Clô-đin) Đoóc-xen
  5. Henri Dorsel = Hăng-ri Đoóc-xen
  6. Cécile Dorsel = Xê-xin Đoóc-xen
  7. Dagobert = Đa-gô-be
  8. Kernach = Kéc-nắc
  9. Jean Jack = Giăng-giắc

10 phản hồi to “Kho vàng trên đảo nhỏ-Enid Blyton”

  1. Lê Tin said

    sao không up tiếp đi bạn

  2. Lê Tin said

    up tiếp đi, đang hay

  3. Lê Tin said

    up tiếp đi bạn

  4. Lê Tin said

    thank bạn, truyện này mình đọc từ hồi những năm 90. hồi trước đọc sách nhưng cũng bị rách đoạn cuối, tìm trên mạng mấy năm rồi giờ mới có bạn up thật hay quá. Thank lần nữa.

  5. nQhien said

    Thay mặt tuổi thơ của mình, chân thành cảm ơn bạn. cũng google mấy năm rồi mới thấy.
    Mình mạn phép đóng gói lại cho dễ bảo quản https://www.mediafire.com/folder/8dm5fcr5p0yr9/Kho%20vang%20tren%20dao%20nho

    • Tuổi thơ của trẻ em bây giờ hình như không lung linh đầy màu sắc như chúng ta thưở bé! Đáng buồn khi truyện tranh và điện tử tràn lan, thay thế cho truyện chữ…
      Bạn đóng gói vậy chắc không lo bị mất nữa rồi nhỉ😉 Cám ơn bạn đã chia sẻ cảm xúc với mình!

  6. speaking of

    Kho vàng trên đảo nhỏ-Enid Blyton « Unknown Soldier

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: